Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

VỊNH CÁI ĐIẾU CÀY


Em thân gái trong dòng học trúc
Rốn em lồi chân em dạng tè he
Ấy thế mà nhiều kẻ si mê
Riêng chỉ có một mình anh là say nhất
Ôm em vào lòng,phút giây ngây ngất
Anh hút anh hôn hơi thở dịu mềm
Tay anh sờ chiếc rốn của em
Để em thẹn em cười sằng sặc
Buông em ra rồi anh còn say lắc
Mắt lờ đờ ôi khoảnh khắc thần tiên
Anh thả hồn vào chốn bình yên
Và quên lãng một ngày nặng nhọc
Mặc cho em nằm lăn nằm lóc
Ngẫm tủi hờn cho phận trúc tre
Anh đã đốt thân em bằng ngọn lửa lập lòe
Bằng tình cảm của người yêu chân thật
Và nếu hỏi rằng em yêu ai nhất?
Em  trả lời chỉ có một mình anh
Trong mái nhà này em đã sống bên anh
Vì nghèo khó nên ta thành đôi bạn
Năm tháng trôi đi em đã nên dày dạn
Em vẫn là em:một chiếc điếu cày

(Sưu tầm)

HAI MƯƠI NGHÌN ĐỒNG

Chợ Mới chính phiên đương đông.Góc chợ ấm ĩ tiếng loa của gánh hát rong-tạp kỹ.Vòng người xúm xít vây quanh một người đàn ông tay cầm me-ga-phôn tay kia giơ tờ giấy bạc hỏi:"
-Xin quý vị cho biết đây là cái gì?
Đám người nhao nhao:"
-Hai mươi nghìn đồng!
-Tờ tiền này sẽ thuộc về quý vị nếu quý vị vui lòng chui qua vòng tròn này!
Ông ta chỉ chiếc vòng dùng để cho các con thú chui qua khi kết thúc mỗi trò diễn.
Nhiều cánh tay giơ lên .Người quản trò lại xoa tay vò nát tờ tiền và hỏi:"
-Thế bây giờ có ai xung phong chui nào?
Lác đác còn vài cánh tay.Chưa kết thúc,quản trò lại ném tờ 20 ngàn xuống đất và giẫm lên,di di gót giày hỏi:"
-Giờ thì có ai chui?
Đám đông im lặng khi chỉ còn một cánh tay duy nhất vẫn giơ.Người ta nhìn kỹ chủ nhân của nó:Một người đàn ông đeo kính trắng,mặc đồ tây tay xách cặp da đen bóng.
Bà già bán chổi quệt nước cốt trầu bên mép:"-Mua danh ba vạn,bán danh ba đồng"
Thằng bé phụ quán bún ốc phun nước bọt vào chân cọc lều:"
-Lưu manh giả danh trí thức!"
Còn tên ma cà bông lang thang ở chợ buông một câu nửa Hán nửa Nôm:"

-Giáo giở!

BẦM RA HÀ NỘI

BẦM RA HÀ NỘI
 Quê tôi ở tỉnh Khó Thọ nên gọi mẹ là bầm.Từ những năm 50 bầm ra ruộng cấy bầm run.Tới những năm 60,70 bầm ra Hà Nội lại càng run hơn vì nghe câu:”Kẻ cắp chợ Đồng Xuân”’Nhanh như kẻ cắp Hà Nội:chúng nhanh như chảo chớp mà chảo chớp thật lâu đến như hầu bao ruột tượng bầm quấn quanh hông lận xuống tận dwói cạp quần thì chúng cũng lần không còn hào chỉ”.
Bởi vậy,ra đất kinh kỳ bầm cảnh giác cao độ.Vào hiệu kem Thủy tạ bầm mua hẳn 1 cây,vốn ý nhị bầm cắn một miếng lại giấu ra sau lưng.Ai dè bầm cắn lệch về một phía que nên miếng kem còn lại rớt xuống đất.Nuốt xong phần kem trong miệng,bầm định cắn miếng nữa nhưng khi đưa tay về thì ôi thôi:chỉ còn chiếc que không?.Miệng lẩm bẩm:”-Kẻ cắp Hà Nội tài thật,vừa đây mà đã lấy mất nửa que kem cuả mình?!?”

 Nhìn thấy biển rạp chiếu bóng Kim Đồng,bầm bèn mua vé vào xem mà phải vé loại 5 hào ở hàng đầu cho gầm màn ảnh!.Chọn đúng ghế A13 nhưng mặt ghế đã gấp,bầm bèn trèo lên cạnh ghế dựng đứng mà ngự.Lũ khán giả ngồi sau la ó để nhân viên tới lật hộ mặt ghế bầm mới hạ thấp độ cao.Xem phim chiến đấu của Liên-xô đến đoạn cao trào bầm bật dậy vỗ tay .Mặt ghế dựng lên đập đánh pách vào mông mà bầm không thèm để ý.Đến khi ngồi xuống bị hẫng ngã thụp đít xuống đất bầm lại đổ lỗi:”-Mẹ cha kẻ cắp Hà nội,cái ghế vừa ở đây mà nó lại lấy mất rồi?!?”

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2016

GIẾNG LÀNG ĐAN

Giếng làng từ độ trăng lên
Dây gầu bối rối rơi trên tay bà
Tôi muốn viết về một nét gì đó của làng Hạ Đan yêu dấu của tôi.Việc đó rất khó vì tôi không có khả năng.Ấu cũng là lực bất tòng tâm..Nhưng trong tôi vẫn có một nối niềm đau đáu như món nợ đời chưa trả được cho nơi chôn nhau cắt rốn của mình.Mặt khác làng tôi không phải là một làng Việt cổ có các danh lam thắng cảnh hay nhiều di tích lịch sử,mặc dù làng chỉ cách đền Hiền thờ thánh Mẫu Âu cơ vài cây số đường chim bay.Nơi mà theo truyền thuyết Mẹ Âu cơ sau khi đưa 50 người con lập ấp,sinh cơ.Người đã về Trời để lại dải yếm nơi gốc đa cổ thụ mà nay người đời lập đền thờ tưởng nhớ.Làng tôi mới được tạo lập từ vài trăm năm nay theo thần phả cất ở đình làng thì tên cũ của làng là Minh Sơn(tức là núi sáng)do những người dưới xuôi lên đây khai khẩn đất hoang,quần tụ mà thành làng.Vậy thôi;những điều người xưa ghi lại đơn sơ quá.Vậy cái mảnh hồn làng nằm ở đâu?mà hàng trăm năm nay,hàng nghìn nhà dân thành tâm hương khói?Tôi bước đi trên con đường nhỏ trong làng mà lòng xốn sang trước cái thực.Đã có thực một ngôi đình rộng thênh thang nằm trên gò đất nhỏ giữa Đầm Hà mênh mồng.Ngôi đình mà con các anh Duy Đài,anh Nguyễn Trọng sống giữa Thủ đô vẫn tự hào về những cây cột đình gỗ lim to người ôm không xuể.Qua lời kể của mẹ cha;mỗi khi chúng gặp rủi ro,tai qua nạn khỏi,bọn chúng lại nói câu của miệng:"Phúc to bằng cái đình  Hạ Đan,bố mẹ ạ!"Nhưng với riêng tôi,kỷ niệm sâu sắc nhứt vẫn là cái giếng làng.Giếng làng tui không to và hình vuông như giếng làng ở dưới xuôi.Có lẽ xưa kia nó cũng hình vuông,ngoại trừ thành giếng;có lẽ sau này người ta xây lại thành hình tròn.Bằng chứng là khi tát giếng hay khi trời trong nhìn sâu xuống đáy giếng ta thấy lòng giếng dưới sâu không xây mà lát gạch thành hình vuông.Những viên gạch vồ to tổ bố được xếp vuông vắn từ đáy giếng lên.Nước trong văn vắt,mỗi khi chúng tôi ngó cổ xuống thấy cả bầu trời trong xanh dưới đáy giếng khơi.Ban ngày chúng tôi mới dám ra chơi gần giếng thậm chí ngó cả cổ xuống chứ đến đêm thì eo ơi!Đố có dám!Mọi người đồn rằng ngày xưa giếng là nơi người Tàu giấu của.Khi nước ta cấm người Tàu mang vàng bạc về nước thì chúng tìm cách chôn giấu để sau này có dịp sẽ sang lấy lại.Để giữ bí mật nơi giấu ,chúng giết hết những người tham gia vào việc vận chuyển và chôn cất.Chúng còn chôn theoột người con gái đồng trinh để làm thần gữ của.Vàng bạc chất xung quanh,miệng ngậm sâm và bị gắn xi,đèn nến tắp đủ sáng cho đến khi người con gái ấy chết.Hồn ma người ấy sẽ bảo vệ không cho người ngoài xâm phạm chờ chủ của kho của xuất hiện.Có người còn quả quyết rằng vào một đêm thanh vắng,tận mắt nhìn thấy một người con gái mặc áo trắng,tóc dài buông xõa che kín mặt,thấp thoáng bên thành giếng.Khi người đó  tới gần thì bóng trắng đso biến mất.Những chuyện đó làm cho lũ trẻ chúng tôi khiếp vía,tối đến sợ cả cây sồi cổ thụ mọc gần giếng.Tối đến ,bóng cây sồi mốc trắng cong cong,tán lá đen dày lập lòe bởi những con đom đóm làm tụi trẻ sợ hết hồn.Ban đêm alf thế,nhưng ban ngày chúng tôi làm chủ cả tán sồi.Bóng sồi là nơi vui chơi lý tưởng của trẻ con.Xung quanh gốc là đám đất bằng để chúng tôi quét sạch làm chỗ ngồi chơi.Những quả sồi ghè cứng nhẫy như những chú rùa đá mà chúng tôi tìm được là sản phẩm đúc đầy túi quần mỗi đứa.Chúng tôi  sắp chúng thành hàng trên mặt đất khi chơi trông như những chiếc chén uống nước úp ngược hay như những quả bí ngô nhỏ xinh.Tuổi thơ tôi gắn liền với chiếc cổng đá cạnh lũy tre nhà.Xa hơn nữa là Đầm Hà với biết bao tôm cá;xa hơn nữa là gò Con Tượng xanh xanh,hình một chú voi cúi xuống uống nước Đầm Hà cổ tích.Gò con Tượng không cao lắm nhưng vì đứng độc lập cạnh cánh đồng và đầm nước mênh mông nên nổi trội.Sườn dốc phẳng xuống,chỗ yên ngựa làm thành một bãi bằng,khum lại như bành con voi chỉ đủ dựng một ngôi đền giếng Sứa.Lưu giữ giếng Sứa rất huyền thoại nên gò còn được gọi tên là gò Đền.Ngày xưa có một ngôi đền lợp lá cọ ba gian,cột gỗ lim,người ôm không xuể.Về sau,đền được xây tường gạch bao quanh.Mặt tiền được đắp đôi rồng lượn,câu đối và hai con nghê trên đỉnh cột cái như chầu vào đền lại như hướng lên một vòm xanh,long lanh năm tháng.Trên hậu cung của đền có thwof một cỗ ngai sơn son thếp vàng và bài vị của Cao Sơn Đại vương.Vì là thờ vọng nên đền không có tượng của vị tướng thời Hùng Vương này (theo thần phả nơi dân lập đền thờ chính của Ngày tận Ba Vì -Sơn Tây ).Những ngày đẹp trời,đứng trên đỉnh gò Đền ,phóng tầm mắt qua sông Thao về phía tây,ta thấy cả đền Mẫu Âu Cơ xa xa dưới bóng đa xanh sẫm một chấm nâu màu ngói,lấp lóa trong nắng.Những người về trang Hiền Lương ngàn năm trước chắc là những con cháu của Âu Cơ rời Phong Châu tiến về khai phá đất rừng làm nên những cánh đồng bám vạt núi đồi quê tôi.Trong cái hoang vu thủa ấy,có vô số lau sậy,nứa giang,chớp trắng những cánh chim trời và mênh mông tăm cá.Có cả tiếng gầm của hùm beo,thú dữ cho nên hai bên mé tường hậu cung của Đền Thượng có đắp bức phù điêu đôi hổ dứng cọp nằm.Lễ đền mùng bảy tháng Giêng hàng năm bao giờ cũng có tục chạy sỏ lợn sống tế thần.Người đi mở đất có lẽ chưa phải là một nông phu ngay mà có lẽ trước nhất là một lạc dân hái lượm,săn bắt trên vùng rừng âm u xưa.Đến thời bố tôi là một nông dân nhưng đã chẳng từng là một thợ sơn tràng,bắt vã đó sao.

   Hạ Đan hôm nay đã là một làng đẹp và sạch.Đi trước nhất là việc bê tông hóa đường làng ngõ xóm.Cái xóm Cầu Đất xưa đã có đường bê tông qua giếng Tang rồi đó.Nhà văn hóa khu 8 xây gần cạnh giếng.Nhà nhà có nước giếng khơi.Có lẽ không nhà ai phải ra giếng Tang gánh nước nữa.Nhưng riêng tôi,lòng đã hẹn lòng đến một ngày đẹp trời cùng bạn bè về để được tắm trong nước giếng Tang.Chỉ có thể  đẹp   lên về tâm hồn.Và biết đâu lại đẹp lên một tý về cái dáng vóc hạn chế 1m60,cân nặng 46kg này.

CÂY ĐA LÀNG

Cây đa,cây đa làng tôi,bao đời toả bóng,cành toả khăp bốn phương,bóng che về tám hướng.Lớn lao thay,gốc mấy chục người ôm,ngọn vut mấy trượng.Giup người đi xa quê định hướng về nguồn cội;che bóng mat dân làng những trưa hè khăc nghiệt.
Bởi lẽ:rễ cắm sâu xuống đất Đan Hà,có dễ đến trăm năm,hut dưỡng chât nuôi cây,nuôi lá cành rợp bóng.Ngọn vươn lên đón nắng,nhào nguyên khí của trời ban xuống thành ngọn gió mat lành xào xạc trên kia.
Nhớ khi:cây mới bén đất mọc bên đường,thân bằng xe điếu nep cạnh điếm canh nên lớn lên gọi là cây đa điếm.Thủa ấy,vọng canh phòng phường gian trộm căp,lũ bât lương sau bọn bám got Thực dân dùng canh Việt Minh Cộng sản.Bởi điếm canh ngăn lối giữa đê sông Hồng đi chiến khu 10 chống Pháp.Những năm 40,bao người hành khât,lũ lượt ăn mày từ nạn đói,tối về vạ vật chốn điếm canh sáng ra nhiều thân hình không dậy được.Tuần đinh lười nhac lôi xac ra vùi lâp qua loa;nắng mưa,thời gian da thịt bón cho cây xanh tôt.Cành vươn vững chãi,ngàn lá dạt dào,khí săc re re,gió sương xào xạc.Trên cành lớn buông rễ dài nương tựa;tán lá to phủ kín mấy mươi vuông.Chiều uống ánh mặt trời hoàng hôn tía,sáng hớp khói lành sương moc buổi ban mai.
Nghĩ rằng:Thần cây đa;ma cây gạo;nên các vong hồn không nơi nương tựa;chẳng chốn khói hương;bèn lấy bóng đa làm nơi ngụ.Lại nữa;buổi chín năm kháng chiến trường kỳ có chuyến tàu chuyển quân đi Tây Bắc.Lúc qua đoạn gôc đa thì Việt gian trên tàu dùng na-pan khủng bố.Thương thay,tàu cháy ;người lao ra như bó đuốc.Kẻ lôn lăn trên cỏ;người nhảy xuống đầm Hà những mong dập lửa.Nhưng cât xăng khô bám vào hỏi ai thoat được,những hình nhân co quăp cháy đen.Những dân quân đổ ra gom xac rồi đem chôn vùi lâp quanh đồi.Người được tấm chiếu manh,kẻ chỉ tàu lá cọ,hỏi có ai được khâm liệm bấy giờ.Hình tich là gì tât cả lại gôc đa.Cây đa làng tôi đật dờ những oan hồn thủa trươc.
Than ôi! Vật vốn lâu dài;người thì một thủa.Bao đời dân quê chỉ thấy cây đa là một.Thủa bé chăn trâu,chui luồn hốc tối nơi gốc đa trốn vé xem phim;giờ thân ấy đã lụi tàn.Đẹp đẽ thay cái rễ dài hồi trước;lũ chúng tôi vẫn bám đánh đu;giờ đã thành thân đa chính quá một vòng ôm.Vả chăng:đa là cây đại thụ;ứng điềm mở đất vô cùng;cành lá xum xuê ;tỏ dòng truyền bach thế.
Giờ án ngữ cổng trường Trung học,toả bóng cho bầy trẻ nương nhờ,cây vạn tuế những mong nhờ cậy

HỘI LÀNG

"Hội làng năm nay,vui quá là vui..."Nghe câu hát sao mà náo nức.Với Lý Nhưng nó chẳng nói  được nỗi lòng:ông đang bực dọc.Vừa đi,ông vừa lầm bầm:"Vui gì mà vui?Năm nào mà chả hội!Mệt chết người!Mà lại mất lòng quan trên mới chết chứ!".
Số là thế này:làng Hạ quê Lý Nhưng có tục mở hội vào Mùng Bảy tháng Giêng âm lịch.Năm nào cũng thế:lý dịch và dân làng phải chuẩn bị từ trong năm.Giao cho 1 nhà nuôi 1 "Ông ỉn" tức là con lợn (nhưng để Ngài khỏi giận phải gọi tránh đi).Ông ỉn lông phải đen tuyền.Nhà được giao nuôi Ông phải là nhà phụ mẫu song toàn,con cái có đủ nếp tẻ,ngoan ngoãn,gia đình hòa thuận...Nghĩa là hoàn hảo.Ông ỉn được ở chỗ sạch sẽ,ăn toàn cháo hoa nấu bằng gạo nếp....NGhĩa là khác hẳn với các cá thể cùng loài với Ông.Để đến đêm hôm mùng Sáu tháng Giêng,Ông được long trọng rước lên đền Thượng làm vật tế thần.Cuộc thi  \"chạy sỏ lợn" và yến ẩm khao cử chỉ trong phạm vi 2 làng Thượng và Hạ mà thôi.Nhưng năm nay"lại tại chữ NHƯNG!Nó trùng với tên ông lý nên đã làm khổ ông.Dưng là thế này:
 Trước Tết Nguyên đán,quan tuần phủ về thăm quê:quan vốn là người làng Hạ,mà là bạn chăn trâu mới lý Nhưng mới chết chứ!Thủa thiếu thời,quan cũng đi học nhưng dốt đặc cán mai.Có lẽ vì thế mà quan mới tiến:phải chăng ơn thày đồ phạt quỳ trên gai mít nhiều lần quá mà đầu gối quan thành chai.Sau này  trên con đường hoạn lô,quan đi bằng đầu gối giỏi hơn người nên quan đỗ tạo sĩ hàm ngũ phẩm kia.Nay ngài về làng thăm họ hàng,mồ mả ông bà mà lý dịch làng không đến chào sao được..Trên mâm rượu,lý trưởng được ưu ái ngồi gần quan lớn.Ngài vỗ đùi lý Nhưng thân mật:"Hội làng năm nay,anh lý phải làm to mới được.Ta biết đến năm nay là năm min nớp xanh cát tó (ấy là quan nói tiếng Tây bồi cho oai đấy mà vì chữ Nho ngài học đã trả cho thày cả)làng ta đã lập được 50 năm.Các anh phải tổ chức lớn,mới quan tỉnh,quan huyện và các hào lý trong tổng tới dự đủ mới vui.Có khó gì ta giúp.....".Đến nước này thì lý Nhưng chỉ biết vâng dạ mà thôi.Dạ rôi mà lo:mọi năm chỉ làm trong 2 làng đã toat mồ hôi.Nay làm ra cả tỉnh ,biết làm sao?Nhưng cả nể đã nhận lời quan đành phải cưỡi lên lưng cọp vậy.
THế là cả làng nháo lên như nhà có đám.Nhà lo chăm ông ỉn,nhà lo cấy thêm nếp..từ vụ mùa.Lý Nhưng ngược xuôi đôn đốc trai đinh đắp con đường từ đình lên đền Thượng.Con đường này vốn có từ xưa, nhưng nó chạy giữa cánh đồng chiêm trũng.Đoạn qua đầm Hà đắp bằng đất  sét,phù sa nên được làng gọi luôn tên là Bờ Đắp ,vào trời mưa trơn như đổ mỡ.Đi qua bấm chân không khéo ngã lộn xuống đầm Hà.Rồi còn cây cầu Ván,nhiều năm không sửa đã xiêu trụ,long đinh,mất ván lát rồi.Nay các quan về,xe ngựa làm sao?Lại họp hội đồng tộc biểu trong làng xem họ nhà nào có phát tâm công đức?
Về đối ngoại,lại lý Nhưng! Có cụ nào dám nhận chân chạy đi huyện,tỉnh?Nào bẩm báo với quan tri huyện đến các thày thơ lại về dự định mở hội làng.Vui thì các ngài nhận.Nhưng nói đến hỗ trợ mấy suất đinh thì các ngài trợn mắt đưa các luật ,các lệ nào là ẩn lậu suất đinh là phạt trượng,nào là giáng cấp ,vân vân.Nghĩa là làng anh,anh tự lo lấy...
Thế mà sau gần nửa năm,chạy ngược chạy  xuôi,hội làng  đã diễn ra suôn sẻ.Nào là nửa đêm mùng Sau Tết, tập trung trai đinh ở đình làng khiêng Ông ỉn theo lối ven đầm Hà lên đền.Vừa kịp cánh trai làng Thượng cũng rước lợn lễ của học tới tập kết  cạnh  giếng Sứa chân đồi..Chờ đến đúng giờ Tý ba khắc,nghe hiệu lệnh trống trên đền nổi lên.Cả 2 đội khênh lợn của 2 làng thi nhau vượt dốc đền chạy lên.Mặc cho đường dốc,rậm rạp.Ngày thường người ta còn thấy vết chân hổ,và đêm đêm có tiếng beo gầm cạnh đường lên đền ấy chứ. Thế mà vì danh dự,trai 2 làng thi nhau chạy đến sân đền,hạ ông ỉn làng mình xuống.Một anh rút phăng con dao nhọn đeo bên sườn ra,cắt ngay đầu ông ỉn,chạy tới nhúng nagy vào nồi nước đã sôi sunghf sục giữa sân đền.Rồi mặc cho nước bỏng,trai các làng nhanh chóng cạo,vặt lông chiếc thủ lượn cuả đội mình sao cho sạch hết không còn chiếc lông nào để dâng lên tế thần.Đội của làng nào xong trước thì làng đó thắng và hoan hỉ là năm đó làng sẽ được mùa,no ấm.Rồi các cuộc yến tiệc,đãi đằng cũng diễn ra suôn sẻ.
À mà không,suôn sẻ với bà con ,với khách dự thôi.Chứ còn với lý Nhưng là chuốc thêm rắc rối.
Rắc rối là từ hồi tháng 8,quan Tuần về làng xem việc chuẩn bị hội như ngài dặn hôm Tết đến đâu.Tháp tùng ngài còn có thày Đề của huyện.Khi ngài hỏi lý Nhưng là huyện đã trích cho làng bao nhiêu bạc để tổ chức hội làng thì lý ta buột miệng trả lời thành thực là chưa nhận được đồng xu,cắc bạc nào.Thế là sấm sét nổi lên.Tri huyện nghe được câu đó,lo mất mặt với quan phủ,lại giận thằng lý dám lộng ngôn .Phen này,hội xong chắc  ngài thu triện đồng của lý Nhưng tắp lự.
Rồi đến chỗ ngồi trong hội cũng rắc  rối.Đình làng Hạ được xây theo kiểu chuôi vồ.Nghĩa là 3 gian chính diện nhìn theo hướng nam.Còn gian giữa kéo dài  về hướng bắc là hậu cung.Nơi có bục gác cao đặt tượng Thành hoàng làng.
Theo hương ước của làng cỗ ngồi ở đình phải  theo nhân tước(săc bằng) và thiên tước(tuổi tác) ở các vị trí khác nhau.Gian chính giữa đình được chí ra 2 bên tả hữu.Nhưng người thuộc ngành  văn có hàm thất phẩm trở lên,các giám sinh,ấm sinh,tú tài có hàm bát phẩm,cửu phẩm chia nhau cỗ ngồi bên trái.Nếu những ai  phẩm bậc ngang nhau,người có tuổi cao hơn ngồi trên.Những người thuộc ngành võ từ suất đội trở lên,những người thi đỗ cử nhân kể cả văn lẫn võ mà không cso phẩm hàm đều ngồi bên phải .Gian bên trái đình là chỗ ngồi cuả các cụ trên 70 tuổi.Nhưng người theo ngạch võ có hàm từ thất phẩm trở xuống,những người theo ngạch văn như các nhân viên tạp lưu có hàm bát phẩm,cửu phẩm.Các cai tổng,các giám sinh ,ấm sinh,tú tài chưa có  phẩm hàm.Các viên thiên hộ,bá hộ quyên,các binh lính được miễn sai,miễn dao.Gian bên phải đình là cỗ dành cho những người dưới 70 tuổi,lý trưởng và xã dân.Lý Nhưng sai khi cắt đặt mọi công việc phải về ngồi ở chỗ này.Thế mà không cay sao được,lệ làng phép nước.
Nhưng các quan khách không nghĩ như thế.Quan tri huyện hàm thất phẩm là khách mời,ông lý phải long trọng mời ngài chiếu cạp điều hàng trên bên trái đình.Nhưng còn quan tuần là người làng phải theo lệ làng ngồi bên phải.Thế chẳng hóa ra là ngang hàng với tri phủ đại nhân ư.Láo !Láo quá....gọi thày lý ra đây! Thày lý cũng chịu.:làm gì có chỗ nào trên được nữa.Chỉ có chiếu của chủ tế trải trước bệ thờ thì quan nào dám ngồi.Vậy là dằn dỗi,là chèo kéo...quan huyện đòi bỏ ra về,mà quan về,đám thơ lại nào dám ở lại.....Cuối cùng tội cho lý trưởng ,hết xin xỏ quan này,thày nọ tha tội cho mà đâu hết tội..
Tan hội rồi còn lại nỗi thất sủng cho lý làng ta.


Thứ Tư, 30 tháng 3, 2016

CÂY CỌ ĐAN HÀ

Cây cọ phủ 29,85 ha đồi làng Đan vào những năm 50,60 của Thế kỷ trước.Nhưng do nhu cầu lợp nhà bằng lá cọ giảm dần theo tốc độ số nhà xây mái bằng, mái tôn hay lợp ngói thì diện tích cọ giảm hàng năm khoảng 20 ha.Các cây sắn, chè, cây bồ đề, keo thay thế dần cây cọ. Đến năm 2009 Đan Hà chỉ còn 47,2 ha cọ .Giống cọ trồng ở đây chủ yếu để lấy lá(tục gọi là lá Bồ quỳ theo sách"Kiến văn tiểu lục"của Lê Quý Đôn.)Cây cọ dễ trồng, chúng sống trên đồi, trong vườn, ven dộc...đều tươi tốt.Phải chăng cây cọ cũng chính là hiện thân của những người dân thượng du quê tôi:lam lũ nhưng thẳng thắn chính trực, nồng nàn nhưng gai góc mạnh mẽ một cách cứng cỏi bằng dáng vươn cao, thẳng thớm, chọc trời xoè lá hứng sương gió, hứng nắng mưa.Âm thầm và lặng lẽ hút đất, uống nước và hít khí trời để chờ đợi và chờ đợi đúng mỗi tháng một lần không hơn bật ra một mũi kiếm chọ trời rồi xoè quạt, toả ô một tàu lá cọ.Và cứ thế,1 mỗi năm đúng 12 lá cây cọ sống hết mình trong khí trời trung du dâng cho đời 12 chiếc lá lợp nhà, làm nón, đụp áo tơi cho bà bủ, bà bầm cày cấy ngoài đồng.Để rồi những chiếc lá lìa cành xa đi để trên thân cọ đài bi những vảy rắn vảy rồng nhọn sắc.Mưa nắng bào mòn thân cọ rắn chắc như lim như sắt để những ai có thể bào làm song cửa sổ tưởng chất sừng.Bởi sự hoang dại và sức sống mãnh liệt nên ở Đan hà đâu đâu cũng thấy cọ.Ven đầm nước, trong vườn nhà, ven đường làng hay ngước nhìn lên trời một màu xanh lá cọ.Ngoài bờ sông Thao, bến Ba Kẹo(thuộc xã Đan Thượng)ngập bến nước là cọ Đan Hà chất đống cao ngất ngưởng chờ đóng các chuyến bè chở về xuôi.Hàng năm cọ Đan hà cung cấp tới 250.000 tàu lá. Có các lái chuyên buôn lá, lại có cả các đoàn thợ đường xuôi chuyên khai thác lá cọ lên Đan hà như đoàn cụ Cả Du người Hà Đông tới Đan Hà chặt cọ mấy chục năm rồi định cư luôn nơi đất lành nhiều cọ.Ngoài lá cọ lợp nhà, làm chổi, làm nón lá, người dân quê tôi còn lấy lá cọ làm móm.Tức là một dụng cụ đựng, mang như một chiếc làn, chiếc giỏ xách vậy.Chả thế mà có câu ca dao: "Dù ai đi ngược về xuôi Cơm nắm, móm cọ là người trung du" Để làm móm, ta phải chọn một tàu lá cọ có đường kính chỉ khoảng 5-70cm,gọi là cọ cưỡi trâu, và nhất là phải mỏng và có cuống dài để làm quai xach.Trước hết, bạn phải dùng dao cắt vát và lột bỏ phần cật của cuống cọ chỉ để phẩm bụng mỏng như 1 chiếc lạt, tiếp đó uốn cho xoắn gập cuống lá làm đôi tại vị trí sao cho chiều dài của quai xách phù hợp với kích thước của móm.Sau đó dùng 1 hay cả 2 đầu gối của người để làm cữ khuôn mà quấn các tua mép lá lại hình thành giỏ chứa của móm.Người làm khéo sẽ được một chiếc móm cân đối, đều đặn và xinh.Móm dùng để chứa mang các sản vật trên đồi dưới ruộng như trám, dọc, măng, rau rừng cho đến sắn khoai ngô đều tiện cho cả tư thế mang xách cũng như gánh 2 móm khi lên đồi, xuống dốc vì Đan Hà là một xã thượng du đồi dốc nếu gánh bằng quang sẽ bất tiện.Chiếc móm quê còn xuất hiện cả ở Thủ đô những năm 60 của thê kỷ trước theo những người quê tôi mang quà về cho người thân làm người Tràng an ngạc nhiên về một loại làn làm từ lá cây lạ mắt, tiện dùng. Ngoài tác dụng lấy lá lợp nhà, cuống lá cọ dài và có nhiều gai còn được róc chẻ mỏng để sản xuất mành cọ loại treo trang trí như mành lịch, mành cửa đi, cửa sổ thoáng đẹp, loại làm chiếu nằm rất êm, rất mát.Để làm mành, người thợ dùng dao sắc mỏng lột 3 phần cật cứng và láng bóng mặt ngoài cùng của cànnh cọ gọi là lạt cọ.Lạt cọ được phơi nắng cho khô đến khi mặt ngoài chuyển hoàn toàn từ xanh sang trắng ngà, mặt trong màu hồng tươi là thành phẩm sơ chế loại A.Ngoài ra, lạt cọ được phân loại theo kích thước dài 1,2m-1,4m và trên 1,5 m để bán.Những năm chống Mỹ, lạt cọ được tập trung ở ga tàu Đoan Thượng và bến sông Thao để ngành Ngoại thương chuyển đi làm hàng xuất khẩu lấy ngoại tệ về phục vụ đất nước. Về ẩm thực, quả cọ là món khoái khẩu của các bà, các cô và những ai đã một lần được nếm thử.Nó có vị bùi, béo không thứ quả nào sánh được.Quả cọ có rất nhiều trên các cây cọ đã 3,40 năm tuổi trở lên nhưng không phải quả của cây nào ăn cũng ngon.Người sành ăn sẽ chọn và nhớ trên đồi hàng trăm cây chỉ có một vài cây cho quả ngon.Đó là những cây xâm lá, quả tròn hơi thuôn, da xanh đậm và bóng.Đặc biệt cùi phải dày, ruột có thớ mịn, chín màu vàng nghệ không có sâu.Người ta lấy sào dài 8-10m đầu có móc câu bập vào cuống của buồng quả rung cho rụng xuống đất mà chọn nhặt.Khi về cho vào rổ sảo, bẻ thêm mấy mảnh nứa ngắn mà xóc liên tục làm cho tróc phần vỏ xanh của quả lộ ra 1 phần thịt quả.Sau đó rửa sạch ngâm vào nước nóng 60 độ C chừng 15 phút là đã thấy váng mỡ gà nổi lên đổ quả ra ăn được.Có một cách chế biến khác là muối quả cọ.Sau khi làm tróc vỏ như đã nói ở trên, ta cho quả cọ vào vại, mỗi lượtquả cọ lại một lượt muối bể.Để dăm ngày ta đã có món cọ muối ăn với cơm hay ăn riêng đều thấm thía vị bùi, chua chát, béo ngậy của món quà quê miền ngược.Với khách phương xa hay các lái thương đến chợ Đan hà, không ai bỏ qua hàng quả cọ mà chỉ 1 hào 1 bát con.Mới đây thôi mà món này chỉ còn trong hoài niệm.