Thứ Năm, 31 tháng 3, 2016

GIẾNG LÀNG ĐAN

Giếng làng từ độ trăng lên
Dây gầu bối rối rơi trên tay bà
Tôi muốn viết về một nét gì đó của làng Hạ Đan yêu dấu của tôi.Việc đó rất khó vì tôi không có khả năng.Ấu cũng là lực bất tòng tâm..Nhưng trong tôi vẫn có một nối niềm đau đáu như món nợ đời chưa trả được cho nơi chôn nhau cắt rốn của mình.Mặt khác làng tôi không phải là một làng Việt cổ có các danh lam thắng cảnh hay nhiều di tích lịch sử,mặc dù làng chỉ cách đền Hiền thờ thánh Mẫu Âu cơ vài cây số đường chim bay.Nơi mà theo truyền thuyết Mẹ Âu cơ sau khi đưa 50 người con lập ấp,sinh cơ.Người đã về Trời để lại dải yếm nơi gốc đa cổ thụ mà nay người đời lập đền thờ tưởng nhớ.Làng tôi mới được tạo lập từ vài trăm năm nay theo thần phả cất ở đình làng thì tên cũ của làng là Minh Sơn(tức là núi sáng)do những người dưới xuôi lên đây khai khẩn đất hoang,quần tụ mà thành làng.Vậy thôi;những điều người xưa ghi lại đơn sơ quá.Vậy cái mảnh hồn làng nằm ở đâu?mà hàng trăm năm nay,hàng nghìn nhà dân thành tâm hương khói?Tôi bước đi trên con đường nhỏ trong làng mà lòng xốn sang trước cái thực.Đã có thực một ngôi đình rộng thênh thang nằm trên gò đất nhỏ giữa Đầm Hà mênh mồng.Ngôi đình mà con các anh Duy Đài,anh Nguyễn Trọng sống giữa Thủ đô vẫn tự hào về những cây cột đình gỗ lim to người ôm không xuể.Qua lời kể của mẹ cha;mỗi khi chúng gặp rủi ro,tai qua nạn khỏi,bọn chúng lại nói câu của miệng:"Phúc to bằng cái đình  Hạ Đan,bố mẹ ạ!"Nhưng với riêng tôi,kỷ niệm sâu sắc nhứt vẫn là cái giếng làng.Giếng làng tui không to và hình vuông như giếng làng ở dưới xuôi.Có lẽ xưa kia nó cũng hình vuông,ngoại trừ thành giếng;có lẽ sau này người ta xây lại thành hình tròn.Bằng chứng là khi tát giếng hay khi trời trong nhìn sâu xuống đáy giếng ta thấy lòng giếng dưới sâu không xây mà lát gạch thành hình vuông.Những viên gạch vồ to tổ bố được xếp vuông vắn từ đáy giếng lên.Nước trong văn vắt,mỗi khi chúng tôi ngó cổ xuống thấy cả bầu trời trong xanh dưới đáy giếng khơi.Ban ngày chúng tôi mới dám ra chơi gần giếng thậm chí ngó cả cổ xuống chứ đến đêm thì eo ơi!Đố có dám!Mọi người đồn rằng ngày xưa giếng là nơi người Tàu giấu của.Khi nước ta cấm người Tàu mang vàng bạc về nước thì chúng tìm cách chôn giấu để sau này có dịp sẽ sang lấy lại.Để giữ bí mật nơi giấu ,chúng giết hết những người tham gia vào việc vận chuyển và chôn cất.Chúng còn chôn theoột người con gái đồng trinh để làm thần gữ của.Vàng bạc chất xung quanh,miệng ngậm sâm và bị gắn xi,đèn nến tắp đủ sáng cho đến khi người con gái ấy chết.Hồn ma người ấy sẽ bảo vệ không cho người ngoài xâm phạm chờ chủ của kho của xuất hiện.Có người còn quả quyết rằng vào một đêm thanh vắng,tận mắt nhìn thấy một người con gái mặc áo trắng,tóc dài buông xõa che kín mặt,thấp thoáng bên thành giếng.Khi người đó  tới gần thì bóng trắng đso biến mất.Những chuyện đó làm cho lũ trẻ chúng tôi khiếp vía,tối đến sợ cả cây sồi cổ thụ mọc gần giếng.Tối đến ,bóng cây sồi mốc trắng cong cong,tán lá đen dày lập lòe bởi những con đom đóm làm tụi trẻ sợ hết hồn.Ban đêm alf thế,nhưng ban ngày chúng tôi làm chủ cả tán sồi.Bóng sồi là nơi vui chơi lý tưởng của trẻ con.Xung quanh gốc là đám đất bằng để chúng tôi quét sạch làm chỗ ngồi chơi.Những quả sồi ghè cứng nhẫy như những chú rùa đá mà chúng tôi tìm được là sản phẩm đúc đầy túi quần mỗi đứa.Chúng tôi  sắp chúng thành hàng trên mặt đất khi chơi trông như những chiếc chén uống nước úp ngược hay như những quả bí ngô nhỏ xinh.Tuổi thơ tôi gắn liền với chiếc cổng đá cạnh lũy tre nhà.Xa hơn nữa là Đầm Hà với biết bao tôm cá;xa hơn nữa là gò Con Tượng xanh xanh,hình một chú voi cúi xuống uống nước Đầm Hà cổ tích.Gò con Tượng không cao lắm nhưng vì đứng độc lập cạnh cánh đồng và đầm nước mênh mông nên nổi trội.Sườn dốc phẳng xuống,chỗ yên ngựa làm thành một bãi bằng,khum lại như bành con voi chỉ đủ dựng một ngôi đền giếng Sứa.Lưu giữ giếng Sứa rất huyền thoại nên gò còn được gọi tên là gò Đền.Ngày xưa có một ngôi đền lợp lá cọ ba gian,cột gỗ lim,người ôm không xuể.Về sau,đền được xây tường gạch bao quanh.Mặt tiền được đắp đôi rồng lượn,câu đối và hai con nghê trên đỉnh cột cái như chầu vào đền lại như hướng lên một vòm xanh,long lanh năm tháng.Trên hậu cung của đền có thwof một cỗ ngai sơn son thếp vàng và bài vị của Cao Sơn Đại vương.Vì là thờ vọng nên đền không có tượng của vị tướng thời Hùng Vương này (theo thần phả nơi dân lập đền thờ chính của Ngày tận Ba Vì -Sơn Tây ).Những ngày đẹp trời,đứng trên đỉnh gò Đền ,phóng tầm mắt qua sông Thao về phía tây,ta thấy cả đền Mẫu Âu Cơ xa xa dưới bóng đa xanh sẫm một chấm nâu màu ngói,lấp lóa trong nắng.Những người về trang Hiền Lương ngàn năm trước chắc là những con cháu của Âu Cơ rời Phong Châu tiến về khai phá đất rừng làm nên những cánh đồng bám vạt núi đồi quê tôi.Trong cái hoang vu thủa ấy,có vô số lau sậy,nứa giang,chớp trắng những cánh chim trời và mênh mông tăm cá.Có cả tiếng gầm của hùm beo,thú dữ cho nên hai bên mé tường hậu cung của Đền Thượng có đắp bức phù điêu đôi hổ dứng cọp nằm.Lễ đền mùng bảy tháng Giêng hàng năm bao giờ cũng có tục chạy sỏ lợn sống tế thần.Người đi mở đất có lẽ chưa phải là một nông phu ngay mà có lẽ trước nhất là một lạc dân hái lượm,săn bắt trên vùng rừng âm u xưa.Đến thời bố tôi là một nông dân nhưng đã chẳng từng là một thợ sơn tràng,bắt vã đó sao.

   Hạ Đan hôm nay đã là một làng đẹp và sạch.Đi trước nhất là việc bê tông hóa đường làng ngõ xóm.Cái xóm Cầu Đất xưa đã có đường bê tông qua giếng Tang rồi đó.Nhà văn hóa khu 8 xây gần cạnh giếng.Nhà nhà có nước giếng khơi.Có lẽ không nhà ai phải ra giếng Tang gánh nước nữa.Nhưng riêng tôi,lòng đã hẹn lòng đến một ngày đẹp trời cùng bạn bè về để được tắm trong nước giếng Tang.Chỉ có thể  đẹp   lên về tâm hồn.Và biết đâu lại đẹp lên một tý về cái dáng vóc hạn chế 1m60,cân nặng 46kg này.

CÂY ĐA LÀNG

Cây đa,cây đa làng tôi,bao đời toả bóng,cành toả khăp bốn phương,bóng che về tám hướng.Lớn lao thay,gốc mấy chục người ôm,ngọn vut mấy trượng.Giup người đi xa quê định hướng về nguồn cội;che bóng mat dân làng những trưa hè khăc nghiệt.
Bởi lẽ:rễ cắm sâu xuống đất Đan Hà,có dễ đến trăm năm,hut dưỡng chât nuôi cây,nuôi lá cành rợp bóng.Ngọn vươn lên đón nắng,nhào nguyên khí của trời ban xuống thành ngọn gió mat lành xào xạc trên kia.
Nhớ khi:cây mới bén đất mọc bên đường,thân bằng xe điếu nep cạnh điếm canh nên lớn lên gọi là cây đa điếm.Thủa ấy,vọng canh phòng phường gian trộm căp,lũ bât lương sau bọn bám got Thực dân dùng canh Việt Minh Cộng sản.Bởi điếm canh ngăn lối giữa đê sông Hồng đi chiến khu 10 chống Pháp.Những năm 40,bao người hành khât,lũ lượt ăn mày từ nạn đói,tối về vạ vật chốn điếm canh sáng ra nhiều thân hình không dậy được.Tuần đinh lười nhac lôi xac ra vùi lâp qua loa;nắng mưa,thời gian da thịt bón cho cây xanh tôt.Cành vươn vững chãi,ngàn lá dạt dào,khí săc re re,gió sương xào xạc.Trên cành lớn buông rễ dài nương tựa;tán lá to phủ kín mấy mươi vuông.Chiều uống ánh mặt trời hoàng hôn tía,sáng hớp khói lành sương moc buổi ban mai.
Nghĩ rằng:Thần cây đa;ma cây gạo;nên các vong hồn không nơi nương tựa;chẳng chốn khói hương;bèn lấy bóng đa làm nơi ngụ.Lại nữa;buổi chín năm kháng chiến trường kỳ có chuyến tàu chuyển quân đi Tây Bắc.Lúc qua đoạn gôc đa thì Việt gian trên tàu dùng na-pan khủng bố.Thương thay,tàu cháy ;người lao ra như bó đuốc.Kẻ lôn lăn trên cỏ;người nhảy xuống đầm Hà những mong dập lửa.Nhưng cât xăng khô bám vào hỏi ai thoat được,những hình nhân co quăp cháy đen.Những dân quân đổ ra gom xac rồi đem chôn vùi lâp quanh đồi.Người được tấm chiếu manh,kẻ chỉ tàu lá cọ,hỏi có ai được khâm liệm bấy giờ.Hình tich là gì tât cả lại gôc đa.Cây đa làng tôi đật dờ những oan hồn thủa trươc.
Than ôi! Vật vốn lâu dài;người thì một thủa.Bao đời dân quê chỉ thấy cây đa là một.Thủa bé chăn trâu,chui luồn hốc tối nơi gốc đa trốn vé xem phim;giờ thân ấy đã lụi tàn.Đẹp đẽ thay cái rễ dài hồi trước;lũ chúng tôi vẫn bám đánh đu;giờ đã thành thân đa chính quá một vòng ôm.Vả chăng:đa là cây đại thụ;ứng điềm mở đất vô cùng;cành lá xum xuê ;tỏ dòng truyền bach thế.
Giờ án ngữ cổng trường Trung học,toả bóng cho bầy trẻ nương nhờ,cây vạn tuế những mong nhờ cậy

HỘI LÀNG

"Hội làng năm nay,vui quá là vui..."Nghe câu hát sao mà náo nức.Với Lý Nhưng nó chẳng nói  được nỗi lòng:ông đang bực dọc.Vừa đi,ông vừa lầm bầm:"Vui gì mà vui?Năm nào mà chả hội!Mệt chết người!Mà lại mất lòng quan trên mới chết chứ!".
Số là thế này:làng Hạ quê Lý Nhưng có tục mở hội vào Mùng Bảy tháng Giêng âm lịch.Năm nào cũng thế:lý dịch và dân làng phải chuẩn bị từ trong năm.Giao cho 1 nhà nuôi 1 "Ông ỉn" tức là con lợn (nhưng để Ngài khỏi giận phải gọi tránh đi).Ông ỉn lông phải đen tuyền.Nhà được giao nuôi Ông phải là nhà phụ mẫu song toàn,con cái có đủ nếp tẻ,ngoan ngoãn,gia đình hòa thuận...Nghĩa là hoàn hảo.Ông ỉn được ở chỗ sạch sẽ,ăn toàn cháo hoa nấu bằng gạo nếp....NGhĩa là khác hẳn với các cá thể cùng loài với Ông.Để đến đêm hôm mùng Sáu tháng Giêng,Ông được long trọng rước lên đền Thượng làm vật tế thần.Cuộc thi  \"chạy sỏ lợn" và yến ẩm khao cử chỉ trong phạm vi 2 làng Thượng và Hạ mà thôi.Nhưng năm nay"lại tại chữ NHƯNG!Nó trùng với tên ông lý nên đã làm khổ ông.Dưng là thế này:
 Trước Tết Nguyên đán,quan tuần phủ về thăm quê:quan vốn là người làng Hạ,mà là bạn chăn trâu mới lý Nhưng mới chết chứ!Thủa thiếu thời,quan cũng đi học nhưng dốt đặc cán mai.Có lẽ vì thế mà quan mới tiến:phải chăng ơn thày đồ phạt quỳ trên gai mít nhiều lần quá mà đầu gối quan thành chai.Sau này  trên con đường hoạn lô,quan đi bằng đầu gối giỏi hơn người nên quan đỗ tạo sĩ hàm ngũ phẩm kia.Nay ngài về làng thăm họ hàng,mồ mả ông bà mà lý dịch làng không đến chào sao được..Trên mâm rượu,lý trưởng được ưu ái ngồi gần quan lớn.Ngài vỗ đùi lý Nhưng thân mật:"Hội làng năm nay,anh lý phải làm to mới được.Ta biết đến năm nay là năm min nớp xanh cát tó (ấy là quan nói tiếng Tây bồi cho oai đấy mà vì chữ Nho ngài học đã trả cho thày cả)làng ta đã lập được 50 năm.Các anh phải tổ chức lớn,mới quan tỉnh,quan huyện và các hào lý trong tổng tới dự đủ mới vui.Có khó gì ta giúp.....".Đến nước này thì lý Nhưng chỉ biết vâng dạ mà thôi.Dạ rôi mà lo:mọi năm chỉ làm trong 2 làng đã toat mồ hôi.Nay làm ra cả tỉnh ,biết làm sao?Nhưng cả nể đã nhận lời quan đành phải cưỡi lên lưng cọp vậy.
THế là cả làng nháo lên như nhà có đám.Nhà lo chăm ông ỉn,nhà lo cấy thêm nếp..từ vụ mùa.Lý Nhưng ngược xuôi đôn đốc trai đinh đắp con đường từ đình lên đền Thượng.Con đường này vốn có từ xưa, nhưng nó chạy giữa cánh đồng chiêm trũng.Đoạn qua đầm Hà đắp bằng đất  sét,phù sa nên được làng gọi luôn tên là Bờ Đắp ,vào trời mưa trơn như đổ mỡ.Đi qua bấm chân không khéo ngã lộn xuống đầm Hà.Rồi còn cây cầu Ván,nhiều năm không sửa đã xiêu trụ,long đinh,mất ván lát rồi.Nay các quan về,xe ngựa làm sao?Lại họp hội đồng tộc biểu trong làng xem họ nhà nào có phát tâm công đức?
Về đối ngoại,lại lý Nhưng! Có cụ nào dám nhận chân chạy đi huyện,tỉnh?Nào bẩm báo với quan tri huyện đến các thày thơ lại về dự định mở hội làng.Vui thì các ngài nhận.Nhưng nói đến hỗ trợ mấy suất đinh thì các ngài trợn mắt đưa các luật ,các lệ nào là ẩn lậu suất đinh là phạt trượng,nào là giáng cấp ,vân vân.Nghĩa là làng anh,anh tự lo lấy...
Thế mà sau gần nửa năm,chạy ngược chạy  xuôi,hội làng  đã diễn ra suôn sẻ.Nào là nửa đêm mùng Sau Tết, tập trung trai đinh ở đình làng khiêng Ông ỉn theo lối ven đầm Hà lên đền.Vừa kịp cánh trai làng Thượng cũng rước lợn lễ của học tới tập kết  cạnh  giếng Sứa chân đồi..Chờ đến đúng giờ Tý ba khắc,nghe hiệu lệnh trống trên đền nổi lên.Cả 2 đội khênh lợn của 2 làng thi nhau vượt dốc đền chạy lên.Mặc cho đường dốc,rậm rạp.Ngày thường người ta còn thấy vết chân hổ,và đêm đêm có tiếng beo gầm cạnh đường lên đền ấy chứ. Thế mà vì danh dự,trai 2 làng thi nhau chạy đến sân đền,hạ ông ỉn làng mình xuống.Một anh rút phăng con dao nhọn đeo bên sườn ra,cắt ngay đầu ông ỉn,chạy tới nhúng nagy vào nồi nước đã sôi sunghf sục giữa sân đền.Rồi mặc cho nước bỏng,trai các làng nhanh chóng cạo,vặt lông chiếc thủ lượn cuả đội mình sao cho sạch hết không còn chiếc lông nào để dâng lên tế thần.Đội của làng nào xong trước thì làng đó thắng và hoan hỉ là năm đó làng sẽ được mùa,no ấm.Rồi các cuộc yến tiệc,đãi đằng cũng diễn ra suôn sẻ.
À mà không,suôn sẻ với bà con ,với khách dự thôi.Chứ còn với lý Nhưng là chuốc thêm rắc rối.
Rắc rối là từ hồi tháng 8,quan Tuần về làng xem việc chuẩn bị hội như ngài dặn hôm Tết đến đâu.Tháp tùng ngài còn có thày Đề của huyện.Khi ngài hỏi lý Nhưng là huyện đã trích cho làng bao nhiêu bạc để tổ chức hội làng thì lý ta buột miệng trả lời thành thực là chưa nhận được đồng xu,cắc bạc nào.Thế là sấm sét nổi lên.Tri huyện nghe được câu đó,lo mất mặt với quan phủ,lại giận thằng lý dám lộng ngôn .Phen này,hội xong chắc  ngài thu triện đồng của lý Nhưng tắp lự.
Rồi đến chỗ ngồi trong hội cũng rắc  rối.Đình làng Hạ được xây theo kiểu chuôi vồ.Nghĩa là 3 gian chính diện nhìn theo hướng nam.Còn gian giữa kéo dài  về hướng bắc là hậu cung.Nơi có bục gác cao đặt tượng Thành hoàng làng.
Theo hương ước của làng cỗ ngồi ở đình phải  theo nhân tước(săc bằng) và thiên tước(tuổi tác) ở các vị trí khác nhau.Gian chính giữa đình được chí ra 2 bên tả hữu.Nhưng người thuộc ngành  văn có hàm thất phẩm trở lên,các giám sinh,ấm sinh,tú tài có hàm bát phẩm,cửu phẩm chia nhau cỗ ngồi bên trái.Nếu những ai  phẩm bậc ngang nhau,người có tuổi cao hơn ngồi trên.Những người thuộc ngành võ từ suất đội trở lên,những người thi đỗ cử nhân kể cả văn lẫn võ mà không cso phẩm hàm đều ngồi bên phải .Gian bên trái đình là chỗ ngồi cuả các cụ trên 70 tuổi.Nhưng người theo ngạch võ có hàm từ thất phẩm trở xuống,những người theo ngạch văn như các nhân viên tạp lưu có hàm bát phẩm,cửu phẩm.Các cai tổng,các giám sinh ,ấm sinh,tú tài chưa có  phẩm hàm.Các viên thiên hộ,bá hộ quyên,các binh lính được miễn sai,miễn dao.Gian bên phải đình là cỗ dành cho những người dưới 70 tuổi,lý trưởng và xã dân.Lý Nhưng sai khi cắt đặt mọi công việc phải về ngồi ở chỗ này.Thế mà không cay sao được,lệ làng phép nước.
Nhưng các quan khách không nghĩ như thế.Quan tri huyện hàm thất phẩm là khách mời,ông lý phải long trọng mời ngài chiếu cạp điều hàng trên bên trái đình.Nhưng còn quan tuần là người làng phải theo lệ làng ngồi bên phải.Thế chẳng hóa ra là ngang hàng với tri phủ đại nhân ư.Láo !Láo quá....gọi thày lý ra đây! Thày lý cũng chịu.:làm gì có chỗ nào trên được nữa.Chỉ có chiếu của chủ tế trải trước bệ thờ thì quan nào dám ngồi.Vậy là dằn dỗi,là chèo kéo...quan huyện đòi bỏ ra về,mà quan về,đám thơ lại nào dám ở lại.....Cuối cùng tội cho lý trưởng ,hết xin xỏ quan này,thày nọ tha tội cho mà đâu hết tội..
Tan hội rồi còn lại nỗi thất sủng cho lý làng ta.


Thứ Tư, 30 tháng 3, 2016

CÂY CỌ ĐAN HÀ

Cây cọ phủ 29,85 ha đồi làng Đan vào những năm 50,60 của Thế kỷ trước.Nhưng do nhu cầu lợp nhà bằng lá cọ giảm dần theo tốc độ số nhà xây mái bằng, mái tôn hay lợp ngói thì diện tích cọ giảm hàng năm khoảng 20 ha.Các cây sắn, chè, cây bồ đề, keo thay thế dần cây cọ. Đến năm 2009 Đan Hà chỉ còn 47,2 ha cọ .Giống cọ trồng ở đây chủ yếu để lấy lá(tục gọi là lá Bồ quỳ theo sách"Kiến văn tiểu lục"của Lê Quý Đôn.)Cây cọ dễ trồng, chúng sống trên đồi, trong vườn, ven dộc...đều tươi tốt.Phải chăng cây cọ cũng chính là hiện thân của những người dân thượng du quê tôi:lam lũ nhưng thẳng thắn chính trực, nồng nàn nhưng gai góc mạnh mẽ một cách cứng cỏi bằng dáng vươn cao, thẳng thớm, chọc trời xoè lá hứng sương gió, hứng nắng mưa.Âm thầm và lặng lẽ hút đất, uống nước và hít khí trời để chờ đợi và chờ đợi đúng mỗi tháng một lần không hơn bật ra một mũi kiếm chọ trời rồi xoè quạt, toả ô một tàu lá cọ.Và cứ thế,1 mỗi năm đúng 12 lá cây cọ sống hết mình trong khí trời trung du dâng cho đời 12 chiếc lá lợp nhà, làm nón, đụp áo tơi cho bà bủ, bà bầm cày cấy ngoài đồng.Để rồi những chiếc lá lìa cành xa đi để trên thân cọ đài bi những vảy rắn vảy rồng nhọn sắc.Mưa nắng bào mòn thân cọ rắn chắc như lim như sắt để những ai có thể bào làm song cửa sổ tưởng chất sừng.Bởi sự hoang dại và sức sống mãnh liệt nên ở Đan hà đâu đâu cũng thấy cọ.Ven đầm nước, trong vườn nhà, ven đường làng hay ngước nhìn lên trời một màu xanh lá cọ.Ngoài bờ sông Thao, bến Ba Kẹo(thuộc xã Đan Thượng)ngập bến nước là cọ Đan Hà chất đống cao ngất ngưởng chờ đóng các chuyến bè chở về xuôi.Hàng năm cọ Đan hà cung cấp tới 250.000 tàu lá. Có các lái chuyên buôn lá, lại có cả các đoàn thợ đường xuôi chuyên khai thác lá cọ lên Đan hà như đoàn cụ Cả Du người Hà Đông tới Đan Hà chặt cọ mấy chục năm rồi định cư luôn nơi đất lành nhiều cọ.Ngoài lá cọ lợp nhà, làm chổi, làm nón lá, người dân quê tôi còn lấy lá cọ làm móm.Tức là một dụng cụ đựng, mang như một chiếc làn, chiếc giỏ xách vậy.Chả thế mà có câu ca dao: "Dù ai đi ngược về xuôi Cơm nắm, móm cọ là người trung du" Để làm móm, ta phải chọn một tàu lá cọ có đường kính chỉ khoảng 5-70cm,gọi là cọ cưỡi trâu, và nhất là phải mỏng và có cuống dài để làm quai xach.Trước hết, bạn phải dùng dao cắt vát và lột bỏ phần cật của cuống cọ chỉ để phẩm bụng mỏng như 1 chiếc lạt, tiếp đó uốn cho xoắn gập cuống lá làm đôi tại vị trí sao cho chiều dài của quai xách phù hợp với kích thước của móm.Sau đó dùng 1 hay cả 2 đầu gối của người để làm cữ khuôn mà quấn các tua mép lá lại hình thành giỏ chứa của móm.Người làm khéo sẽ được một chiếc móm cân đối, đều đặn và xinh.Móm dùng để chứa mang các sản vật trên đồi dưới ruộng như trám, dọc, măng, rau rừng cho đến sắn khoai ngô đều tiện cho cả tư thế mang xách cũng như gánh 2 móm khi lên đồi, xuống dốc vì Đan Hà là một xã thượng du đồi dốc nếu gánh bằng quang sẽ bất tiện.Chiếc móm quê còn xuất hiện cả ở Thủ đô những năm 60 của thê kỷ trước theo những người quê tôi mang quà về cho người thân làm người Tràng an ngạc nhiên về một loại làn làm từ lá cây lạ mắt, tiện dùng. Ngoài tác dụng lấy lá lợp nhà, cuống lá cọ dài và có nhiều gai còn được róc chẻ mỏng để sản xuất mành cọ loại treo trang trí như mành lịch, mành cửa đi, cửa sổ thoáng đẹp, loại làm chiếu nằm rất êm, rất mát.Để làm mành, người thợ dùng dao sắc mỏng lột 3 phần cật cứng và láng bóng mặt ngoài cùng của cànnh cọ gọi là lạt cọ.Lạt cọ được phơi nắng cho khô đến khi mặt ngoài chuyển hoàn toàn từ xanh sang trắng ngà, mặt trong màu hồng tươi là thành phẩm sơ chế loại A.Ngoài ra, lạt cọ được phân loại theo kích thước dài 1,2m-1,4m và trên 1,5 m để bán.Những năm chống Mỹ, lạt cọ được tập trung ở ga tàu Đoan Thượng và bến sông Thao để ngành Ngoại thương chuyển đi làm hàng xuất khẩu lấy ngoại tệ về phục vụ đất nước. Về ẩm thực, quả cọ là món khoái khẩu của các bà, các cô và những ai đã một lần được nếm thử.Nó có vị bùi, béo không thứ quả nào sánh được.Quả cọ có rất nhiều trên các cây cọ đã 3,40 năm tuổi trở lên nhưng không phải quả của cây nào ăn cũng ngon.Người sành ăn sẽ chọn và nhớ trên đồi hàng trăm cây chỉ có một vài cây cho quả ngon.Đó là những cây xâm lá, quả tròn hơi thuôn, da xanh đậm và bóng.Đặc biệt cùi phải dày, ruột có thớ mịn, chín màu vàng nghệ không có sâu.Người ta lấy sào dài 8-10m đầu có móc câu bập vào cuống của buồng quả rung cho rụng xuống đất mà chọn nhặt.Khi về cho vào rổ sảo, bẻ thêm mấy mảnh nứa ngắn mà xóc liên tục làm cho tróc phần vỏ xanh của quả lộ ra 1 phần thịt quả.Sau đó rửa sạch ngâm vào nước nóng 60 độ C chừng 15 phút là đã thấy váng mỡ gà nổi lên đổ quả ra ăn được.Có một cách chế biến khác là muối quả cọ.Sau khi làm tróc vỏ như đã nói ở trên, ta cho quả cọ vào vại, mỗi lượtquả cọ lại một lượt muối bể.Để dăm ngày ta đã có món cọ muối ăn với cơm hay ăn riêng đều thấm thía vị bùi, chua chát, béo ngậy của món quà quê miền ngược.Với khách phương xa hay các lái thương đến chợ Đan hà, không ai bỏ qua hàng quả cọ mà chỉ 1 hào 1 bát con.Mới đây thôi mà món này chỉ còn trong hoài niệm.

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Mỏ trang xanh

Đầm Mỏ Trang nằm về phía đông-bắc của xã Đan Hà.Tuy đầm chỉ rộng khoảng 40 ha nhưng về hình dạng và hệ động,thực vật sống trên đầm cũng như ven đầm thì vô cùng phong phú và hấp dẫn.Vốn là một hồ nước ngọt tự nhiên nên từ lâu đầm được HTXNN quản lý và thả cá.Nhưng đầm có hình một con bạch tuộc mà mỗi vòi của nó là một ngách đầm nên đầm luôn ở trạng thái bán tự nhiên và hoang dã.Hàng đêm,đàn rái cá xuống mò cá mang lên ăn trên bềnh nổi giữa đầm rồi sáng ra để lại hàng bãi cá ăn dở cho trẻ con đoán xem đầu tháng hay cuối tháng mà rái cá ăn từ đầu cá xuống hay từ đuôi cá lên.Mùa đông,các xã viên đẵn thân cọ đắp ngăn ngách tát đầm,đêm ngủ lại trông cá bị đàn rùa thấy đầm cạn di cư bò cả qua người.Lại nói về cái bềnh nổi giữa đầm nhìn từ bờ tưởng hòn đảo nhỏ xanh um nhưng kỳ thực đó là một bãi lầy.Bềnh được hình thành từ bộ rễ chằng chịt của 1 loài cây ắn mọc san sat nhau trên bềnh.Mỗi năm một lầm,mùa nước lũ từ sông Hồng vào qua cống Hiêng dềnh lên các mảng bèo tây rộng hơn chiếc chiếu trôi giạt vào bềnh mắc trên các ngọn ắn.Khi nước xuống chúng bị giữ lại và nằm phủ lên nơi rễ ắn chằng chịt.Cộng với phù sa sông Hồng,lớp xác bèo cứ từng năm,từng năm bồi thêm lớp mùn đất trên bềnh,lớp trên cứng,lớp dưới mềm.Thoạt nhìn ta tưởng nền đất,nhưng hãy cảnh giác,đó là mặt đầm lầy có chỗ nếu bạn sa xuống có thể lút đầu.Ấy là nơi dân địa phương gọi là "óc chó" biểu hiện thường thấy là chỗ thỉnh thoảng có bọt khí to bằng trái bóng bàn nổi lên và vỡ ra gọi là đất thở.Khi tới gần ta nhún chân,mặt đất sẽ rung rinh và có lớp bùn non,loãng như nước vo gạo trồi lên đó là nơi nguy hiểm.Muốn đi lại trên bềnh,ta phải linh hoạt đu bám và đặt chân lên lớp rễ sát gốc ắn.Chính vì thế nên ít người dám thám hiểm bềnh Mỏ Trang để cho nơi đây là thế giới của các loài rùa,rắn và chim nhất là các giống cò sau khi kiếm ăn trên đầm về đây trú ngụ,sinh sôi.Vào mùa sinh sản,trên các lùm cây,ngọn ắn,hằng hà sa số các tổ cò ắp trứng hay lố nhố cò con há miệng chờ mẹ mớm mồi.Nhưng khi mải mê lấy trứng chim,bắt rùa ta hãy chú ý có thể một chú rắn đang cuộn khoanh cạnh tổ cò hay sưởi nắng trên đám lá rôm sắc lẹm.Đầm Mỏ Trang thường được thả sen,vào đầu hạ cả đầm ngan ngát hương sen.Dưới bóng lá sen là nơi vẫy vùng của các loài cá trắm,chép hay cá quả lượn lờ.Thi thoảng còn thấy mấy chú kỳ đà lặn hụp.Nổi lên giữa đầm là gò Bềnh như một hòn đảo mọc đầy cọ đã vài chục năm tuổi trông như một con rùa xanh đầu hướng ra cửa đầm.Trên trời,chiu chít đàn chim hít,chim xanh về ăn quả cọ lấy gò Bềnh làm nơi tạm trú.Đến nay,đầm Mỏ Trang đã qua thời biến cải vũng nên đồi,diện tích mặt nước bị thu hẹp dần cho đến bao giờ câu chuyện về đầm Mỏ Trang chỉ còn trong hồi ức.

MÙA CHIM NGÓI VỀ

Cuối thu,gió heo may nhẹ nhẹ thổi;mang theo cái hanh hao của nắng rớt thu tàn,mang theo những đàn chim tránh rét bay về phương Nam .Chúng bay trên những cánh đồng vàng nhưng loang lổ như tấm áo vá của mẹ ta trong cái thời gian khó hồi nào.Trên tấm áo ấy,những mảng vàng tươi là thảm lúa vào thì đỏ đuôi.Những bông lúa mới chớm già giặn ở cuối bông được ánh nắng thu thắp lửa.Trên tấm áo có những miếng vá màu xanh,ấy là những thủa ruộng lúa mới chồi sau mùa lụt của cơn bão thứ tư.Những miếng vá màu nâu sậm là những thửa ruộng vừa gặt xong,chỉ còn trơ lại những gốc rạ.Thương người nông dân vất vả với cánh đồng sau những thiên tai vừa rồi,đàn chim ngói trên con đường thiên lý di cư của mình chỉ nỡ xuống mót những hạt thóc rơi còn sót lại cho đỡ đói lòng.Nhưng chúng có ngờ đâu ,nơi ấy đầy cạm bẫy.Chính những ruộng lúa đã gặt xong,người ta cắt gốc rạ đi cho mặt đất bằng phẳng để trải lưới.Tấm lưới bẫy chim ngói được căng trên 2 chiếc càng tre đực,2 đầu càng được buộc với 2 cọc ghim đóng xuống đất.Hai đầu kia được nối với 2 đầu dây dài dẫn tới chỗ nấp của thợ săn chim để giật úp lưới khi chim vừa đỗ xuống.Chỗ nấp ấy được che bởi những cành lá xanh mà quê tôi gọi là lá moc mach(thứ lá lý tưởng cho bộ đội ,dân quân cài làm lá nguỵ trang vì chúng vừa nhẹ lại vừa mỏng còn tác dụng che phủ thì tuyệt vời).Để nhử đàn chim đang trên đường đi phải đỗ xuống người ta dùng hai con chim mồi.Chim mồi cũng là chim ngói nhưng được nuôi từ năm trước.Chúng được lựa chọn từ những con ngói hay bay và lúc nhử bạn để chúng không nhìn thấy gì người ta dùng chỉ khâu măt chúng lại.Có 2 loại chim mồi:đó là mồi bàn và mồi tung.Chim mồi bàn(còn gọi là mồi gẩy được buộc chân vào 1 đầu que tre nhỏ bố trí như 1 đòn bẩy trên 1 cọc đóng ở gần lưới.Còn chim mồi bàn bị buộc chân nối với 1 sợi dây dài,1 đầu dây do thợ săn giữ.Nếu thấy đàn chim bay trên trời còn ở xa,thợ săn tung chim mồi lên.Con chim bị khâu măt loạng choạng bay hết tầm dây sà xuống ruộng lúa gần đó.Nhìn thấy bạn cùng loài,theo tập tính đàn chim ngói lượn vòng trên chỗ bạn vừa bay để tìm kiếm.Khi đó thợ săn ngồi trong chỗ nấp(gọi là nò)bèn kéo dây gẩy mồi bàn.Con chim bị buộc chân vào đòn bẩy lên xuống xập xoà như mời gọi.Thế là cả đàn chim đáp xuống và lưới tung lên úp gọn.Chúng chỉ còn giãy giụa trong vô vọng.
Chúng có lỗi gì đâu,có chăng chỉ vì thịt chúng rất ngon.Chim ngói thuộc họ bồ câu,nhưng mình chúng nhỏ gọn hơn,thịt săn chắc hơn.Hạp với mồi nhậu của các thượng đế .Chả vì thế mà ở quê tôi,có người tên Quan hàng năm cứ mùa chim ngói lại thu gom hàng trăm con mang biếu Tri huyện rồi quan Đốc trên tỉnh xơi.Và chim ngói cũng nâng ông Quan lên chức hoài để mà quay lại nạt dân.Thiệt là :"Tiền có thể mua được chức vụ nhưng không mua được sự kính trọng" Thôi kệ chuyện đời,ta hãy tìm sự thanh thản trong khi ngắm loài chim ngói.Chúng có 3 loại chia theo màu lông:ngói đỏ,ngói xanh và ngói gạch.Ngói đỏ có màu lồng đỏ gạch.Ngói xanh có bộ lông xanh lam quý phái.Còn ngói gạch là sự pha trộn 2 màu kia và có lẽ chúng cũng là kết quả của sự lai giống giữa 2 màu kia.Nhưng con nào cũng đẹp,cũng toát lên sự tinh nhanh hoang dã.Đôi mắt nhỏ lanh lẹ,cái đầu nhỏ linh loạt.Nó là hiện thân của sự tinh nhanh nhưng sao dễ bị dụ lừa vào bẫy?Tại tham mồi ư?Không phải!Có chăng là sự đoàn kết ,sự hy sinh muốn giải cứu đồng loại khi gặp hoạn nạn trên dường.Khá thương thay!
Ngày bé tôi vẫn thường chăn trâu trên những cánh đồng gặt xong trơ ra những gốc rạ .Nay buổi tàn thu,tôi vẫn có cái thú ngắm cánh đồng trong những buổi chiều tà bảng lảng khói sương.Khi ấy những ký ức tuổi thơ lại trở về từ cuối cánh đồng tít tắp với vài bóng bà con lam lũ.Khi ấy ,cảm giác thư thái trong tâm hồn chợt đến.Nhất là khi đàn chim đến mùa di trú lại trở về.

Rùa Mỏ trang

Hôm Tuyên đưa mình và mấy anh em ở Công ty Bảo  vệ  vô Lương Sơn Quán ở thị xã Thủ Dầu  nhậu,trên bàn có nồi lẩu cua đinh.Không hiểu mình hỏi:"Cua đinh là thứ chi?"thì mấy tay vệ sĩ cười cười:"Nó là cái con thích thì thò ra mà hông thit thì thụt vào đó!"Khó hỉu,mãi tới hồi chúng múc vô chén mình chút rau trụng và có 1 miểng thịt nhai sạn sạn mình mới coi kỹ:thì đó là 1 miếng có dính 1 phần bàn chân con rùa nhỏ.Mình la:"Ngoài Bắc tụi tao kêu là con ba ba con cóc kẹ thôi"Thứ ba ba con hồi trẻ nhỏ bắt bỏ vô bình để trên bàn chơi suốt có gì.

Những năm Mỏ Trang còn thả sen thì rùa mẹ,rùa con chơi thả sức.Những hôm trời nắng sau 1 đợt mưa chúng trèo lên các bè tre phơi nắng trông như những hòn đá sắp hàng.Những con phơi lâu mai khô màu bạc còn những con mới trèo lên mai còn ướt nước lấp loáng ánh mặt trời.Coi vậy thôi nhưng thấy người muốn tiếp cận là chúng lăn tòm xuống nước,lặn mất tăm.Ông Đăng nghĩ ra kế hòng bắt chúng:Ổng bèn đan 1 chiếc lồng tre thưa giông giống như cái thuyền lùa xuống dưới bè tre.Miệng lồng lấp lim mặt nước.Tưởng vẫn giỡn chơi được, hổm sau tụi rùa lại leo lên bè chơi.Ông Đăng chèo thuyền vịt tới gần,cũng như mọi lần tụi rùa hè nhau lăn tõm xuống hòng bơi đi nhưng lúng túng với cái mai nặng nề nhiều tên không trèo qua cạp lồng được.Ổng chỉ việc nhấc lồng lên;lựa con to về thịt còn nhỏ thì dùi lỗ ở mai xâu dây cho lũ trẻ chơi.Mình cũng lãnh 1 con cỡ chén ăn cơm,buộc dây nối hắn với 1 hòn đá chơi mấy hôm chán bèn đem ném đại xuống ao qua lùm cây  ven bờ mà không thèm xem lại coi hắn ta đã rơi xuống nước chưa.Bẵng đi tới hơn 2 tháng sau,trong lúc ngó tìm tổ chim bói cá trong hốc đất bờ ao,mình bỗng thấy chú rùa hồi nào vẫn lủng lẳng trong không khí.Thì ra trong lúc vội vã ném cả dây ,chú rùa bị mắc vào 1 nhánh bụi chít mọc chìa ra.Tội nghiệp hơn 2 tháng qua,chú rùa ăn gió,uống sương mà chưa chết.Mình tháo dây,đưa hắn xuống hồ mà hắn vẫn cứ lềnh bềnh nổi trên mặt nước vì thân thể khô kiệt tự hồi nào.Mình được 1 phen ân hận về tính cẩu thả và cách hành xử thô bạo với loài vật.Mà cha mình đã dạy:rùa là 1 trong 4 con vật thiêng(tứ linh) được thờ tự.Khi đi đường,gặp rùa là điềm dữ:"Gặp rắn thì đi,gặp quy thì về"đó sao.Nếu cứ kiêng vậy thì ở xứ Mỏ Trang hồi ấy gặp rùa liền liền.Vào mùa tát đầm,mọi người đốt lửa nướng cá,trải lá cọ ngủ ngay tại ven đầm.Đang ngủ giật mình vì rùa bò qua người đi tránh cạn đầm là thường.
  Vào mùa này,Tháng 3 mưa rào hồ ao đầy nước.Ếch nhái,cá tôm thỏa sức rong chơi mừng nước mới.Họ hàng nhà rùa cũng lợn lờ vào ven đầm thăm thú kiếm ăn.Nhìn sóng nước dập dờn ven bờ y chang là mấy chú rùa đang nghển cổ đớp những ngọn cỏ,ngọn khoai lang thò xuống mặt nước.Chị giá mình nghĩ ra cách bắt rùa độc đáo.Chọn 1 cây dao phát bờ(loại dao có cán dài)rồi rón rén tới gần chỗ tên rùa nào to đang mải mê bứt lá cỏ bèn nhắm mai chú chém đại.Rùa ta có bị thương hổng biết,nhưng chú nào cũng bị giật mình thụt tất cả cổ và chân lại chìm xuống nước.Ta chỉ cần nahnh chóng mò quanh đó là tóm được chú ta đang so vai rụt cổ nằm lảng dưới mặt bùn.Chỉ đến khi hoàn hồn thò được chân ra thì đã bị mang lên bờ vật ngửa rồi.Cỡ rùa to như cái bát canh(tô) trở lên mới đáng làm thịt.Bọn tôi đặt ngửa chú rùa lên kiềng giữa bép rồi đốt lửa  cháy to .Rùa ta thấy nóng lưng muốn chạy song 4 chân thò ra chỉ hươ hươ trên không khí mà hổng lật úp mình lại được.Cho tới khi mai chú làm luôn cái nồi đun nước trong mình sôi xèo xèo thì cả cổ và 4 chưn mới duỗi đơ ra.Ta đem ra cọ rửa rồi dùng dao tách đôi mai và yếm hắn ra.Đó là mổ rùa. Bộ ruột ta nên bợ riêng ra để bỏ vì hổng ăn được.Nhớ không làm bục ruột rùa vì thứ nước phân rùa dính vào thịt thì gây tiêu chảy cho người ăn ngay.Riêng buồng gan thì chao ơi là lớn.Thảo nào họ nhà rùa sống lâu và dũng cảm như nin-ja vậy.Gan rùa ngon nhứt.Còn thịt thì chẳng được bao lăm.Gỡ cả chân,đầu ,đuôi và chút cơ lườn cả chú rùa đại chỉ được cỡ chén ăn cơm.Tất cả được xào lăn với gia vị là rau xương sông mới hạp.Sau đó cho vào nấu canh chuối là món sở trường của mình.Món trứng rùa cực ngon.Vào dịp tháng tư,rùa leo lên đồi đẻ.Tìm trong bãi sắn,bãi củ từ thấy có vết đất mới,bới ra y rằng đó là cả ổ hơn chục trứng rùa.Trứng màu trắng,không có vỏ cứng mà vỏ dai ,hình thuôn hơi dài như trứng rắn.Nhưng luộc lên,bóc vỏ dai ra,toàn lòng đỏ,ngon hết biết.
  Từ những năm 80,rộ lên phong trào săn lùng rùa bán cho nước ngoài.Giống rùa gần như tuyệt chủng.Ban đầu là rùa vàng,rùa xếp.Giá cả triệu bạc 1 con.Giống này sống ở trên núi.Hồi chăn trâu mình có gặp ở rừng sẹ nánh.Đó là thứ cây họ đao giềng.Không như giống giềng sẹ có hoa và chùm quả trên ngọn cây mà sẹ nánh ra quả dưới đất.Khi ta chui trong lùm cây tối mò mò.Chỉ có ánh sáng lờ mờ lọt qua vòm lá rậm rạp trên đầu,thật tinh mới thấy chùm sẹ nánh to cỡ đĩa xôi mọc lên gần gốc.Chớ thấy màu đỏ mà tưởng chín,đó là những chùm còn non.Sẹ nánh khi chín màu đỏ sậm hoặc nâu kia.Gỡ từng quả to cỡ ngón tay cái có nhiều lông  ra khỏi chùm ,ta bửa lớp vỏ ra,bên trong là múi ngọt thanh giống như vị măng cụt của Miền Nam vậy.Nhưng thứ quả rừng đối với trẻ chăn trâu thì là mỹ vị.Vì thế mà tụi tôi bất chấp lời đe của người lớn là rừng sẹ nánh gần gốc đa chuồng bò có nhiều rắn và ma.Tụi tôi vẫn tìm đến và chui vào lùm cây rậm rạp kia.Và có 1 lần đứng tim:đang dò dẫm tìm sẹ chín,tôi bỗng thấy có con gì đen đen đang thò cổ dài chén sẹ.Định thần lại nhìn kỹ thì ra là chú rùa xếp cũng chung món khoái khẩu của tụi tôi.Nhưng giờ dây bóng dáng cả lũ rùa đá sống dưới đầm cũng không còn.Chúng bị đưa sang bên kia biên giới và ra phố vào các nhà hàng phục vụ các thượng đế lắm tiền.ĐẾn họ hàng nhà rùa là giống ba ba cũng vạ lây.Bọn săn rùa cứ sáng sáng ra lại cầm 1 cây gậy nhỏ lội quanh ven đầm.Lũ ba ba đi ăn đêm qua để vết chân lại trên bùn,chúng dò theo đến khi vết chân mất hút ở đâu thì thọc gậy tăm quanh vũng bùn đó.Khi động phải mình,ba ba sủi tăm lên chúng thọc tay xuống mò.Ba ba bị tóm dưới bùn không khi nào há miệng ra cắn.
 ÔI!lũ sát sinh.Nếu ta bít cua đinh là loài rùa thì dứt khoát  là hổng nhậu.


Đàn ong trở về

Thế là đàn ong rừng lại về trang trại nơi vườn cũ.Vậy đã bao năm mà những cây giàng giàng cổ thụ do bố tôi trồng những năm 60 lại gọi được ong rừng về trú ngụ.Ba cây đứng chụm sum xuê trên đỉnh gò Bềnh mà khi ta đứng tận trên đê cũng nhìn thấy.Tôi vẫn chỉ cho bạn bè mà tự hào rằng:"Kia!Chỗ có ngọn cây cao ngất ấy là nơi vườn xưa,lối cũ,nơi tôi lớn khôn,sống quãng đời niên thiếu:trèo cọ,bắt chim."Những cây giàng  giàng ra hoa mỗi độ là gọi bao ong bướm trở về tầm hoa,hút mật.Khi ta tới gần gốc cây,một trận mưa những bụi vàng lắc rắc trên tóc ta,mái tóc vốn đã điểm sương lại thêm những cánh hoa li ti như những lộc trời ban cho cái đầu trải phong trần khiến ta luống  những ngậm ngùi,hoang tưởng.Bỗng ta lắng nghe,tiếng gì rù rì,ầm ừ,sôi sôi như cơm mưa sắp tới.Ta chột dạ,mưa ư?Mưa rừng cọ-Gió rừng thông "cũng không sôi sục bằng.Đó là tiếng ở trên cao.Ta ngước lên:giữa muôn ngàn tán lá,muôn vạn chùm hoa:những chú ong chăm chỉ,những con bướm lượn lờ.....và biết bao loài côn trùng có cánh yêu hoa,mến mật chiu chít bay chen trong vòm lá rậm của giàng giàng.Những tiếng cánh đập vào không khí,đập vào cánh hoa,đập vào nhau và đập vào tán lá...tạo ra âm thanh hỗn tạp,rù rì.Ta lắng nghe,ta lắng nghe âm thanh của cuộc sống,âm thanh của lao động,âm thanh xen lẫn với hương hoa...tất cả,tất cả,chúng làm ta xốn xang yêu cuộc sống,quên hết những muộn phiền,ân oán ở trên đời.Ta bay như những cánh ong kia vào bầu trời,vào không gian vô tận.....
Vui làm sao,hôm vào thắp hương mộ cha ngày kỵ,chị gái tôi dẫn lên đỉnh đồi,chỉ vào tán cây giàng giàng nhỏ nhất,nhưng lại ý tứ nhịn nhường nhất.Nó nép mình vào giữa chằng chịt mây leo và bụi giang che chắn.Gần  chỗ chạc ba có chỗ khum khum như cái vậy bừa đó là tổ ong rừng to như cái chăn chiên cuộn lại.Tôi chưa thấy đàn ong nào đông quân thế bao giờ và nhiều người quanh tôi cũng khẳng định như vậy.Ở quê tôi gọi loại ong rừng này là khoái :khoái quan;còn ong mật nuôi gọi là khoái do.Hai loài khác nhau ở kích thước và màu sắc của ong thợ chiếm số đông:Khoái quan con to,dài mình hơn nhưng màu vàng sáng hơn khoái do vốn mình ngắn màu xám vằn đen rõ nét.Về độ thuần và dữ tợn chúng cũng ở 2 cấp độ dù chúng đều cho ta thứ mật ngon ngọt vô cùng.Ong rừng tấn công quyết liệt khi bị chọc giận và nguy hiểm từ nọc độc:có lần chúng đốt chết cả trâu to.Nhưng tôi vẫn yêu cả hai vì tính cần cù lao động,như cha tôi lúc sinh thời.
Phải chăng cha tôi linh thiêng nên ngày giỗ người đã dụ được đàn ong rừng về tại vườn xưa.Nơi người yên nghỉ.Lại phải nói rằng mộ cha tôi nằm trong khuôn viên lăng mộ cả gia tộc nhà tôi đặt tại gò Bềnh.Đó là một quả đồi độc lập nằm như hòn đảo giữa đầm nước Mỏ Trang mênh mông.Đứng trên đỉnh Hoa Hòe nhìn xuống thấy gò Bềnh trông như một con rùa lớn.Đầu và cổ rùa là doi đất nơi đặt mộ cha tôi.Khi sinh thời vì cha tôi có  đọc sách chữ Nho,biết phong thủy cho là nơi đắc địa.Khi giặc Mỹ ném bom đường sắt,nhà tôi ở gần nên sơ tán vào đây..Ông ngắm hình thế và chọn nơi khó đường vào nhất:đó là hòn đảo gò Bềnh.Cả đời người khai phá,trồng cây,đắp đường nối đảo với bờ.Và khi về già dặn chúng tôi khi cha đã mất,nhớ đem về an táng cạnh mẹ và bà. Lại nói về đàn ong rừng về như điềm lành cha tôi mang lại.Nhớ thủa xưa người đã từng là thợ sơn tràng.Cha tôi hay cùng ông Bá Hạng,ông Quyền Thế đi kiếm mật ong rừng.Mỗi chuyến đi ba,bốn ngày liền.Những Sơn tình,Sơn nhiễu,Bảo hà,Trái hút đều in dấu cha tôi.Muốn tìm được ong phải đi lúc còn tối trời.Nếu nắng lên thì không có cơ tìm thấy.Ong là loài chăm chỉ nên tìm hoa từ sáng sớm và cũng phân công đi tìm nước,tìm khoáng chất..v...v.Người đi tìm phải tích lũy nhiều kinh nghiệm,đôi tai phải thính và đặc biệt đôi mắt , mắt phải tinh tường.Thông thường ong lấy nước ở ven các con suối,các hòn đá ẩm quan sát kỹ sẽ có ong.Chúng bám vào hút nước hay lấy muối khóang trên đá rồi bay về tổ.Người phải tinh dõi hướng ong bay,đồng thời phải nhớ kỹ động tác của ong lúc bay lên:Góc chếch bao nhiêu,lượn vòng hình chữ gì....rồi mới vút lên?Để nhẩm tính tổ ong ở các bao xa,hướng nào...rồi mới cắt rừng tìm tới.Thông thường tổ ong làm ở cây cao chỗ có chạc bám hoặc hốc cây rỗng ruột ấm áp tránh mưa,tráng cả muông thú rình mò.Cha tôi bảo đi tìm ong nhiều khi gặp gấu.Chúng cậy bộ lông dày cứ leo cả lên cây đến tận tổ ong thò tay vào bẻ từng mảng tầng ong mật,ong non ra đánh chén;mặc cho ong bay tứ tung vần vũ ở trên đầu.Cũng có con no say buông tay rơi cái uỵch xuống đất,Nghe đồn chúng ngất hồi lâu chờ mật tản tụ về mới từ từ ngồi dậy,Nếu ai nhanh tay có thể giết gấu lúc này.Nhưng cánh thợ tìm ong thấy gấu là tránh xa,dù tiếc tổ ong đang bị cái đống lù lù đen đen hiện trên tán lá phía xa đe dọa.Những khi thấy tổ ong,các ông thợ phân công nhau chuẩn bị:ông mồi lửa bùi nhùi,ông buộc dây treo mầu đựng mật.Khi leo lên người đeo mồi cuộn khói hươ hươ...Bầy ong sợ khói nên đành rời tổ.Để mặc con người rút dao mỏng cắt bầu.Các ông đều để lại một ít cho ong ăn và những tầng chưa ong non cho chúng lớn...Những tầng ong đầy mật từ từ được dây hạ xuống cho người dưới đất đỡ lấy.Và khi xong:Trời ơi!Bao mệt nhọc tiêu tan,Thưởng thức mật ong giữa núi ngàn,cây cỏ.....mệt nhọc đều tan,gian khổ ở sau rồi....Thủa nhỏ mỗi lần cha tôi đi tìm ong,tôi bấm ngón tay tính từng ngày chờ đợi.Và khi cha về ngào ngọt cũng về theo. Những năm tuổi già,cha tôi không còn đi ăn ong được nữa.Mắt người đã mờ đâu phân biệt được cánh ong bay.Lưng người đã còng,gối đã mỏi sao leo cây?Người quay về nuôi ong nhà mà phương ngữ quê tôi gọi là khoái do như trên vậy.Cha tôi nuôi thủ công làm tổ bằng thân cây đục rỗng.Lúc lấy mật vắt bằng tay chứ không có thùng quay như họ bây giờ.Mỗi khi xuân về ong thường sẻ tổ,cha tôi nhìn con ong trinh sát gọi là khoái mần,người dụ chúng vào tổ nhân tạo đã dọn sẵn.Thấy ưng ý là chúng dẫn đàn về.Cha tôi chăm chúng như con vì nếu để ong đi là nghĩ rằng vận đen,xúi quẩy.Mỗi khi lấy mật ong cha tôi thường cắt và đặt lên lá chuối rồi thắp hương cầu khấn tổ tiên về hưởng thụ và chứng kiến cho việc làm ăn cuả hậu sinh.Xong cha tôi cho chúng tôi ăn:các bạn ơi!Các bạn có thể ăn cao lương.mỹ vị....ở nhà hàng,Resturran,khách sạn.Nhưng với tôi một đứa trẻ nghèo,ở một vùng quê đặc sản là củ sắn...nên mỗi khi nhớ đến miếng ngon.Trong ký ức của tôi chỉ là miếng ong non béo ngậy và trong đó có cả cái gì man mát khó tả lắm thôi,tóm lại chỉ vẻn vẹn một từ ngon,ngon quá đi thôi.......Nhưng kết cục chuyện gì cũng có hồi kết thúc:Cuối đời cha tôi:ong cũng bỏ ra đi.Có lẽ ông buồn cũng theo cánh ong bay......

Đến hôm nay,đàn ong rừng lại về đây.Cha ở đâu giữa tiếng rù rì vỗ cánh.........Con vui với ong,những mong ngóng cha về...

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2016

HUYỀN TÍCH ĐỀN DỖI

HUYỀN TÍCH ĐỀN DỖI
 Vì sao lại tên là đền Dỗi?Chẳng có ai giả nhời được vì tuyền dững là lớp hậu sinh nên bèn đoán mò mà rằng nếu mang tên khác hẳn phiền phức lôi thôi.Ấy thì gọi đền Dỗi cho xong.Đền Dỗi toạ lạc trên đỉnh yên ngựa của gò Con Rùa giáp ranh giữa thôn Đoài và thôn Đông làng Dỗi. Theo thần phả ghi lại thì đền được xây dựng lần đầu vào năm Minh Mạng thứ hai,khi đó đền được dựng bằng gỗ,lợp lá cọ.Nhưng đến năm Bảo Đại thứ Tư thì được xây bằng gạch lợp ngói. Đền Dỗi thờ vọng một vị tướng đánh giặc dưới thời Hồng Hoang. Vì thế trên đền chỉ thờ một cỗ ngai không có tượng và bài vị viết bằng chữ Hán(Chinh nhat vi Dai vuong Kieu son Nguyen suy thuong dang toi linh tu hiep linh phu chinh tu tai den nghe gieng sua xu vi tien;Ta that vi Dai than cam cuong tu tai bien ha dong vo mieu xu vi tien;Huu nhat vi phat lang Dai than tu tai dong dam mieu xu vi tien).Đền được các triều đại phong kiến cấp 5 đạo sắc phong thần nhưng đến năm Cải Cách bị đội bài phong mang hòm sắc ra đốt trước sự chứng kiến của nhân dân địa phương nên thất truyền...
Lễ hội đền Dỗi được tổ chức vào ngày mùng bảy tháng Giêng hàng năm. Trong lễ hội có tục chạy sỏ lợn bắt nguồn từ truyền thuyết khi Đại vương đi đánh giặc, khi hành quân truy kích địch qua làng thì nam phụ lão ấu ra đón đường uý lạo quân sĩ. Các bô lão năn nỉ đại vương cho đoàn quân nghỉ ngơi để làng khao quân. Nhưng vì việc quân khẩn cấp nên Đại vương chỉ cho phép dừng ít phút khi các trưởng lão hứa sẽ làm cỗ thần tốc ăn nhanh. Quả nhiên chỉ kịp nhai giập miếng trầu, trai làng đã dâng lên mâm cỗ đầy đủ thủ vĩ với các món ăn từ thịt lợn và đặc sản địa phương. Sau đó, để tưởng nhớ Đức Cao Sơn đã từng qua và thụ hưởng cỗ của quê mình, dân làng duy trì tục chạy sỏ lợn thi hàng năm vào đêm mùng sáu, rạng ngày mùng bảy tháng Giêng giữa 2 làng Đông Thôn và Đoài Thôn cho tiện.
Để chuẩn bị cho lễ hội, ngay từ trong năm, các làng phải chuẩn bị một con lợn lông đen tuyền và gọi là Ông ỉn. Ông ỉn được giao việc chăm sóc cho gia đình nào trong làng được tuyển chọn là song toàn,con cháu thảo hiền, ngoan ngoãn lam làm, đoàn kết đầm ấm và nhất là hai bên ông bà bố mẹ đều còn khoẻ mạnh. Ông Ỉn được ở chỗ sạch sẽ, ăn cháo hoa nấu từ gạo nếp. Đến ngày mùng sáu tháng Giêng, Hội đồng tộc biểu của làng họp cắt cử ra một đội chạy sỏ lợn gồm 8 thanh niên khoẻ mạnh,thạo việc và đặc biệt số này phải là trai tân, trong sạch, trinh bạch để tham gia hội thi. Trong 8 anh, một anh được cắt làm đội trưởng có tài chỉ huy để điều hành các thành viên.

Đêm mùng Sáu, ông Ỉn được rước từ nhà nuôi ra đình làng làm lễ trình (đình làng Đoài Thôn nằm trên con đường đắp từ làng qua Đầm Ổi tới đền) sau đó được đưa tới tập kết ở chân dốc Đền. Tới nửa đêm khi nghe tiếng trống trên đền đổ hồi, các trai làng nhanh chóng khiêng ông Ỉn vượt dốc đến đặt giữa sân đền. Ở đó đã có một chảo to nước đang sôi sùng sục mà trai làng phải tức tốc cắt phăng đầu lợn chạy tới nhúng vào.Đội của làng nào,mang được thủ lợn đã làm sạch sẽ,mở được khoá ở hậu cung của đền để mang vào tế thần thì được coi là thắng cuộc. Và làng đó hoan hỉ tin tưởng rằng cả năm đó dân làng sẽ được mùa

LÀNG ĐAN KHÔNG CÓ CỔNG LÀNG

Làng Đan là một làng Việt cổ theo đánh giá của nhà văn Hà Phạm Phú trong các truyện ngắn"Truyền thuyết về làng Hạ Đan".Nhưng từ khi lớn lên,tôi không thấy có ai nói về cổng làng hay làng đã có cổng từ bao giờ.Phải chăng,các bậc tiền hiền lên khai đất lập làng đã biết nơi đây là miền gian khó nên để ngỏ lối ra cho hậu thế đặng tìm phương sinh nhai?Để cho nhà thơ Nguyễn Trọng Luân buổi về quê muốn lội ra ruộng cấy với mẹ mà bà vội bảo con về trước đi còn mình cũng lên bờ chạy tắt cánh đồng tới nhà trước lo nấu cơm kẻo con đói tạo cảm hứng cho nhà thơ viết nên bài:"Cánh đồng x­ưa"đầy xúc cảm in trong tập thơ"Trăng tháng Chạp"và nhiều tạp chí văn nghệ khác.Những người con làng Đan xa quê thành đạt như tiến sĩ Nguyễn Tiến X.,tiến sĩ Nguyễn Duy Đ.
..v..v. luôn đau đáu một nỗi niềm:bao giờ làng Đan thoát khỏi khó nghèo mà theo kịp các miền quê khác,bao giờ linh khí làng Đan mới vượng như cách lý giải của nhà văn Hà Phạm Phú cái nghiên mực:vật thiêng tượng trưng cho linh khí của làng bị thời biến cải ném xuống giếng sâu trong truyện ngắn :"Linh Đan"của ông.Bởi thế cho nên ở nhiều làng quê khác,thanh niên "Đi ra từ làng"lập nghiệp hay"Đi qua cổng làng"học hành thành đạt còn ở làng Đan,lớp cháu con muốn thoát đói nghèo cứ việc lội đầm Hà qua Bờ Đắp hay theo bước các bà các chị qua Cầu Đất,cống Cây Chay đi chợ Đan mà rời quê tìm kế,tìm phương kiếm sống.Tôi rời quê cũng theo những lối tắt ấy.Hành trang chỉ là cái quần cộc,cái túi dết bằng vải tự may trong đó duy nhất bộ  quần áo dài.Nỗi ám ảnh về ngày ra đi ,nỗi ám ảnh về người chị dâu cay nghiệt mà tôi mang suốt cuộc đời đến khi về già có con có cháu vẫn là một mặc cảm.Cho dù 2 con tôi đã là bác sĩ,kỹ sư người ở Kinh Kỳ,người thì Phố Hiến nhưng hiếm khi tôi nói với chúng về quê nội.Khi học xong lớp 7 ở trường cấp 2 của huyện đặt tại làng Ấm tôi đi làm công nhân lăn lộn dứơi làn bom đạn máy bay Mỹ đánh phá nhà máy Su-pe Phốt phát Lâm Thao,nhà Máy Cơ khí Trần Hưng Đạo.Vừa làm vừa tự học,tôi xin đi học lớp Trung cao cơ-điện sau đổi thành lớp Trung cấp thôi nhưng khi tới xin đóng mộc thì Lý trưởng làng Đan không cho với lý do:tôi là cháu của địa chủ.Chết nỗi ông bác tôi chỉ lo lam làm để có ít trâu ruộng chứ nào phải cường hào,gian ác như ai.Mà quả thật sau đợt bể dâu,ông dược sửa sai minh oan.Còn tôi được Đảng,Nhà nước cho đi Nga (Liên Xô cũ)làm thực tập sinh với mức học bổng 70 rup 1 tháng.Lần ấy tôi phải cậy đến cụ chánh tổng ăn tiên chỉ làng xác nhận mới qua.Không chỉ riêng tôi mà con em làng Đan khó qua được cái cánh cổng vô hình.Chả thế mà các anh ra ngoài thành đạt,khi ngoái về làngchỉ chăm chắm tìm hình bóng cánh cổng làng đã mở.Đến như ngài Cự Phú,có ủng hộ làng chỉ đầu tư vào đền vào chùa bằng các quả chuông to nhỏ.Kể cả đền Nghè xưa thì chỉ có trống,nhưng giờ ngài vẫn hiến chuông.Chuông chùa,chuông đền,sớm chiều  gióng lên:binh boong,binh boong....ngõ hầu thức tỉnh:hồn làng ở đâu,linh khí làng Đan thoát khỏi vực thẳm, giếng sâu...cho con em làng mở mày mở mặt.

ÁM ẢNH LÀNG ĐAN

Làng Cam xưa có tên gọi khác,song vì tên làng trùng với tên một vị phúc thần thờ chung với làng bên cạnh mà phải đổi tên cho khỏi phạm húy.Đến chiếc nghiên Cam,linh vật của làng mà một nhà văn quê ở làng Cam cho biết đã ném xuống giếng sâu để tránh đội cải cách quy tội vật chứng của chế độ phong kiến thối nát phản động.Phải chăng vì thế mà linh khí cuả làng bị mất,con chaú cuả làng không ngóc đầu lên được.Chúng phải ra đi tứ tán qua các nẻo ngang ngõ tắt bởi làng Cam không có cổng làng.Niềm tự hào chỉ còn tên gọi làng quýt là thứ đặc sản đã đi vào ca dao nhưng cũng mượn của làng khác vì quýt làng Cam không nhiều trước kia chỉ có vài vườn nay thì tiệt giống.Cái tên quýt làng Cam nhờ vào cái chợ đầy quýt chở từ nơi khác đến,từ các thuyền chuyển quýt từ làng Hiền,động Lôi-Âm sang bày bán và buôn đi các miền.Theo lời kể của ông Tuần Tự là thủ nhang miếu Thất Vị thì ngày xưa làng Cam tràn ngập quýt,đâu đâu cũng thấy quýt,quýt đỏ ối trong các vườn nhà ông Tú Giai ở xóm Ngòi,vườn ông Tham Hiếu ở nhà Vàng....các đồi như mâm xôi gấc là vườn quýt gò Nứa của ông Lý Đẩy,gò Hòe của ông Viêm Nguyện...nhưng từ ngày có miếu Thất Vị từ quýt suy tàn.Số là từ đận nhà ông Liên Điều có các đồi như mâm xôi gấc là vườn quýt gò Nứa của ông Lý Đẩy,gò Hòe của ông Viêm Nguyện...nhưng từ ngày có miếu Thất Vị từ quýt suy tàn.

Số là từ đận nhà ông Liên Điều có vườn quýt thường xuyên bị lũ trẻ vặt trộm.Chúng chăn trâu bên gò Chuột,gò Chùa cách vừơn nhà ông là đầm Vỡ sâu và rông mênh mông.Nó được tạo bởi trận lụt khủng khiếp năm Quý Mùi,nước sông Thao phá đê xoáy vào đồng Vỡ mà thành đầm.Lại nói về lũ trẻ chăn trâu sau khi vào vườn Chùa leo trèo bẻ khế,hái ổi;ra gò chuột bới khoai,móc củ từ đốt lửa nướng chán chê bèn rủ nhau nhằm vào vườn quýt bên kia đầm.Lúc chủ nhà phát hiện,lũ trẻ giắt quýt vào lưng,lận vào cạp quần rồi nhảy ào xuống nước,lặn một hơi ra xa và bơi sang bên kia thưởng thức.Không bắt được lũ trộm tinh nghịch chủ vườn nghĩ kế đặt bẫy.Ông ta đan tre nứa thành những tấm phên thưa rồi đem cọc ghim chúng xuống dưới mặt nước đầm Vỡ.Nhìn từ trên không thấy được nên cũng quen như mọi khi bị đuổi,bọn trẻ lặn một hơi ra xa mà không nổi lên để thở được.Kết quả là bảy chú thiếu niên vĩnh viễn nằm lại đáy đầm Vỡ.Vì chết vào giờ thiêng nên bảy ông mãnh hóa thần.Linh vị được đưa lên đền Thượng thờ chung với chính vị thượng đẳng phúc thần ở bên phải có bài vị ghi:ta that vi dai than cam cuong tu tai bien ha dong Vo mieu xu vi tien.Còn tại chỗ thì dân làng lập miếu thờ trên gò Nghe dõng Đầm(hiện nay gần cột tín hiệu ghi trên ga Cam Thượng) đâu như tên là miếu San Hà hay là miếu Thất vị rất linh ai cầu xin gì được vậy.Duy chỉ có việc xin gì liên quan đến quýt đều không nghiệm... ..Theo lời ông Tuần Tự nhà ở gần miếu phụ trách nhang khói thì các Ngài có lời nguyền rằng quýt làng Cam sẽ tuyệt diệt,ai địnhkinh doanh quýt thì chủ vườn sẽ chết yểu sau khi trồng 7 năm.Phải chăng các ông Trú có vườn quýt ở gò Cao,ông Hỷ làm vườn quýt ở Nhà Vàng ....sau khi phát đạt vài năm đều tận ở tuổi 4,50 ứng nghiệm với lời nguyền đó chăng.
Để giải lời nguyền người ta tìm đến Thành hoàng làng,chết nỗi không biết ngài là ai bởi đình làng Cam có bệ thờ trên gác hậu cung nhưng không có thần phả cũng không có tượng nốt.Ngay các làng bên như đình Bạch làng Trầm thờ con chim trắng để bị gọilà dân cò trắng hay đình Trà thờ đôi dầm thuyền thuyền thúng để dân Lang Sa tin mình là dân bạc hạng....vậy dân làng Cam há phải kém sao?Cho nên lý trưởng đương nhiệm mới sai tạc tượng mà mình ngồi làm mẫu và đem chiếc nhẫn 2 đồng cân đeo tay yểm vào sau lưng bức tượng hòng để sau này chết sẽ trở thành Thành hoàng làng.

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016

ĐẶC SẢN

Người Đan Hà còn tự thưởng thức món cổ cọ vì rất khó làm và rất tốn kém:Bởi những 30,40 trồng và chăm sóc người ta mới có được 1 cây cọ cho thu hoạch mà chỉ vì muốn ăn cổ cọ phải triệt hạ 1 cây.Cổ cọ chính là phần bình ở ngọn tạo ra nõn và búp cọ mới.Muốn lấy được bình ra người ta phải chặt khoanh dần vào giữa cây cọ ở phần phình ra nơi gần ngọn cho tới khi gặp khoảng trắng mềm gọi là mặt khoai.Ta loại hết các phần phụ cứng và bợ trọn bình ra và bẻ một mảnh nếm thử:một vị ngọt mát pha chút béo bùi lan toả làm dịu nỗi mệt nhọc khi chặt khoanh cổ cọ.Nhưng khi ăn sống bạn đừng ham kẻo muốn ăn hoài hổng biết no tới khi say đấy.Món cổ cọ lát mỏng xào với thịt gì cũng ngon,nếu không có chỉ cần chút mỡ,ít lá hành thái nhỏ cũng tạo nên đĩa cổ cọ xào làm đẹp lòng mọi đệ tử Lưu linh.Ngon nhất vẫn là món cổ cọ xào với ngạt.Ngạt là thứ trứng của loài kiến sống trên cây.Thứ cây chúng thích làm tổ nhất vẫn là các cây thành ngạnh,cây sặt...là những cây mọc phổ biến trên các đồi cọ Đan Hà.Muốn lấy trứng ngạt phải chờ tới tháng Mười âm lịch khi các mảnh ruộng lúa ven chân đồi đã đỏ đuôi thì cũng vào mùa đi kiếm ngạt(thời gian này tổ ngạt mới có trứng).Người ta chuẩn bị dao sắc,chổi chít,móm cọ để đựng trứng và không thể thiếu một cái nia(vật dụng giống cái nong nhưng nhỏ hơn một chút)để sàng sảy ngạt.Tới nơi có tổ ngạt,người thợ xuống dộc lấy một ít bùn đất nhão để trát vào cành cây ngăn tổ ngạt tới tay cầm khỏi bị ngạt bò lên người cắn.Sau khi chặt cành cây có tổ,người ta mang tới chỗ đặt nia và dùng dao bổ đôi tổ ngạt ,gõ nhẹ cho trứng ngạt rơi vào nia.Chúng giống như những hạt gạo nếp cái hoa vàng vì hình dáng và màu trắng ngà của nó.Vì có nhiều con ngạt cũng rơi theo nên người thợ còn chắt các cành lá có nhiều lông như mua,sim,ngái,lọng phủ lên mặt nia để ngạt bám vào.Chờ ít lâu,đem bỏ các cành lá đi;sảy hết lá mục sót lại(vì tổ ngạt làm bằng lá cây mục)ta được một mẻ trứng ngạt.Cứ như thế ,lấy khoảng 4,5 tổ ngạt to ta được lượng trứng ngạt để xào với cổ cọ đủ cho 5,6 người ăn.Khi còn trên bếp,đố ai cưỡng được thứ mùi thơqm hấp dẫn của món ăn.Còn khi đã đưa vào miệng,ngâm nga nhai nuốt xuống bụng rồi,ta cứ tưởng dư vị bùi béo ngọt thơm pha trộn vẫn lưu lại nơi nhất khoái.Dư vị không thể quên của miền đất thượng du

MẤY ĐỜI BÁNH ĐÚC

Đòn bánh đúc gói tím chiều Mồng một…”(Thơ Nguyễn Trọng)
 Đã qua nhiều đời bánh đúc là món quà của con nhà nghèo.Đến tầm tan buổi chợ quê,các bà mẹ tần tảo dù đã xong hay chưa hoàn thành việc mua bán cũng nhớ đến những đứa con ở nhà chờ mẹ về chợ.Các bà sẽ mua mấy tấm mía lách,xâu bánh đa hay vài xu bánh đúc.Chỉ vài xu thôi cũng được tấm bánh đúc đủ để chia cho đàn con.Kỷ niệm ấy được nhà thơ Nguyễn Trọng  chia sẻ trong buổi nói chuyện với  Hội cựu giáo chức về tập thơ Trăng tháng Chạp của anh như sau..."Chúng tôi ngóng mẹ về đúng như câu mong mẹ về chợ.Và kìa mẹ tôi về trong mưa rét dưới chiếc nón lá cũ.Bà đi chân đất,những ngón chân bấm lấy đất bùn trơn lấm láp,bàn tay mẹ nhăn nheo run rẩy vì ướt lạnh đưa ra gói lá chuối.Vậy mà anh chị em chúng tôi không một ai ra đón mẹ mà tất cả vẫn đứng trong hè sát mái hiên chìa tay ra đón lấy gói quà và cái ống nứa đựng mắm tôm to bằng ngón tay ấy.Bánh đúc được cắt ra chia đều mỗi đứa một thỏi gọi là đồng bánh đúc.Mắm tôm được đổ ra đĩa để chấm.Có đứa khôn hơn,giữ lại miếng bánh đúc sau cùng để giành phần quệt nốt lòng đĩa dính mắm tôm...".Đó là một chuyện thưởng thức món quà quê.Còn thường nhật,bánh đúc không nhân thay cơm khi nhà chỉ còn chút gạo không đủ nấu cơm cho cả nhà thì số ít gạo ấy được giã thành bột .Nếu thong thả thì đem rây(Rây là dụng cụ để lọc bột qua tấm lưới mắt rất nhỏ được căng trên một khuôn tròn);còn vội thì đem giần(cũng là một dụng cụ như rây nhưng lỗ mắt to hơn).Sau đó bột gạo được cho ít muối,cho nước,cho chút nước vôi là thành mẹt bánh đúc đủ cho cả nhà đỡ lòng.
   Cho tới tận bây giờ,người dân làng Đan vẫn không quên những ngày khốn khó ấy cho nên trong các bữa tiệc thời nay bên cạnh mâm cao cỗ đầy vẫn có một đĩa tây bánh đúc .Tuy nằm nép mình chầu rìa nhưng vẫn được thực khách chú ý đến.Không chỉ khách ở Kinh Kỳ thấy món lạ mà khách quê của không bỏ qua sau khi chè chén say sưa đều dùng bánh đúc thay cho cơm tẻ.Phải chăng họ chợt nhớ đến thời bánh đúc suông thay cơm chống đói thủa nào.Cho dù món bánh đúc này làm từ gạo ngon nhân dừa,nhân lạc...

  Này nhé để làm được món bánh đúc như thế này,ta phải kỳ công lựa chọn những hạt gạo quê trắng trong,thơm ngon nhất,những hạt lạc vỏ tươi,mẩy đề.Trước tiên ta ngâm gạo trong nước giếng cho hạt gạo mềm,sau đó đãi sạch rồi cho vào cối xay mịn.Tiếp đó bột gạo được cho chút hàn the(bo-răc) và chút nước vôi trong để bánh dẻo và dai.Quan trọng nhất là lượng nước vôi pha vào chỉ vừa đủ để bánh khỏi bị nồng,nát.Khi đun phải quấy bánh cho thật đều tay nếu không sẽ bị vón cục hoặc bén đáy nồi khê khét.Điều chỉnh bếp lửa cũng là một bí quyết để làm cho món bánh đúc thêm phần thơm ngon hấp dẫn.Sự phối hợp quấy bột,canh lửa sao cho nồi bánh sôi bập bùng,củi đựơc rụt cho lửa bám xung quanh nồi chứ không tập trung vào giữa đáy vì sẽ làm cháy nồi là khâu quan trọng nhất trong cả công đoạn làm bánh.Rồi đến lúc bánh gần đựoc lại phải khoanh lửa lại.Khoảng ba tiếng đồng hồ ta cho đầu đũa vào trong nồi để thử.Nếu bột chảy xuống từng mảng,thử bằng tay thấy ráo,bột giữ được độ dai và dẻo là đựơc.Khi bánh gần đổ ra khuôn thì lạc đã được rang chín vào đánh đều để bánh có vị ngọt bùi.Bánh ngon có mặt bóng láng,bánh không cứng và không mềm nhão bởi bột làm bánh được pha vừa đủ độ lỏng.Cắn một miếng bánh đúc trắng mịn,nóng sốt quyện với mùi thơm ngậy của lạc rang,thưởng thức với tương mà có điểm vài lát ớt tươi thì thật thơm ngon biết bao.Hương vị bánh đúc như làn gió đồng quê tôi.Đi xa nhớ quê,nghĩ đến hương vị bánh đúc lại  nhớ về ngừơi mẹ tảo tần và lại chạnh nghĩ  cả về những bà mẹ kế hiền lương chăm bẵm con riêng của chồng mấy đời làm nên bánh đúc.......

MÙA CHIM NGÓI VỀ

Cuối thu,gió heo may nhẹ nhẹ thổi;mang theo cái hanh hao của nắng rớt thu tàn,mang theo những đàn chim tránh rét bay về phương Nam .Chúng bay trên những cánh đồng vàng nhưng loang lổ như tấm áo vá của mẹ ta trong cái thời gian khó hồi nào.Trên tấm áo ấy,những mảng vàng tươi là thảm lúa vào thì đỏ đuôi.Những bông lúa mới chớm già giặn ở cuối bông được ánh nắng thu  thắp lửa.Trên tấm áo có những miếng vá màu xanh,ấy là những thủa ruộng lúa mới chồi sau mùa lụt của cơn bão thứ tư.Những miếng vá màu nâu sậm là những thửa ruộng vừa  gặt xong,chỉ còn trơ lại những gốc rạ.Thương người nông dân vất vả với cánh đồng sau những thiên tai vừa rồi,đàn chim ngói trên con đường thiên lý di cư của mình chỉ nỡ xuống mót những hạt thóc rơi còn sót lại cho đỡ đói lòng.Nhưng chúng có ngờ đâu ,nơi ấy đầy cạm bẫy.Chính những ruộng lúa đã gặt xong,người ta cắt gốc rạ đi cho mặt đất bằng phẳng để trải lưới.Tấm lưới bẫy chim ngói được căng trên 2 chiếc càng tre đực,2 đầu càng được buộc với 2 cọc ghim đóng xuống đất.Hai đầu kia được nối với 2 đầu dây dài dẫn tới chỗ nấp của thợ săn chim để giật úp lưới khi chim vừa đỗ xuống.Chỗ nấp ấy được che bởi những cành lá xanh mà quê tôi gọi là lá moc mach(thứ lá lý tưởng cho bộ đội ,dân quân cài làm lá nguỵ trang vì chúng vừa nhẹ lại vừa mỏng còn tác dụng che phủ thì tuyệt vời).Để nhử đàn chim đang trên đường đi phải đỗ xuống người ta dùng hai con chim mồi.Chim mồi cũng là chim ngói nhưng được nuôi từ năm trước.Chúng được lựa chọn từ những con ngói hay bay và lúc nhử bạn để chúng không nhìn thấy gì người ta dùng chỉ khâu măt chúng lại.Có 2 loại chim mồi:đó là mồi bàn và mồi tung.Chim mồi bàn(còn gọi là mồi gẩy được buộc chân vào 1 đầu que tre nhỏ bố trí như 1 đòn bẩy trên 1 cọc đóng ở gần lưới.Còn chim mồi bàn bị buộc chân nối với 1 sợi dây dài,1 đầu dây do thợ săn giữ.Nếu thấy đàn chim bay trên trời còn ở xa,thợ săn tung chim mồi  lên.Con chim bị khâu măt loạng choạng bay hết tầm dây sà xuống ruộng lúa gần đó.Nhìn thấy bạn cùng loài,theo tập tính đàn chim ngói lượn vòng trên chỗ bạn vừa bay để tìm kiếm.Khi đó thợ săn ngồi trong chỗ nấp(gọi là nò)bèn kéo dây gẩy mồi bàn.Con chim bị buộc chân vào đòn bẩy lên xuống xập xoà như mời gọi.Thế là cả đàn chim đáp xuống và lưới tung lên úp gọn.Chúng chỉ còn giãy giụa trong vô vọng.
       Chúng có lỗi gì đâu,có chăng chỉ vì thịt chúng rất ngon.Chim ngói thuộc họ bồ câu,nhưng mình chúng nhỏ gọn hơn,thịt săn chắc hơn.Hạp với mồi nhậu của các thượng đế .Chả vì thế mà ở quê tôi,có người  tên Quan hàng năm cứ mùa chim ngói lại thu gom hàng trăm con mang biếu Tri huyện rồi quan Đốc trên tỉnh xơi.Và chim ngói cũng nâng ông Quan lên chức hoài để mà quay lại nạt dân.Thiệt là :"Tiền  có thể mua được chức vụ nhưng không mua được sự kính trọng"    Thôi kệ chuyện đời,ta hãy tìm sự thanh thản trong khi ngắm loài chim ngói.Chúng có 3 loại chia theo màu lông:ngói đỏ,ngói xanh và ngói gạch.Ngói đỏ có màu lồng đỏ gạch.Ngói xanh có bộ lông xanh lam quý phái.Còn ngói gạch là sự pha trộn 2 màu kia và có lẽ chúng cũng là kết quả của sự lai giống giữa 2 màu kia.Nhưng con nào cũng đẹp,cũng toát lên sự tinh nhanh hoang dã.Đôi mắt nhỏ lanh lẹ,cái đầu nhỏ linh loạt.Nó là hiện thân của sự tinh nhanh nhưng sao dễ bị dụ lừa vào bẫy?Tại tham mồi ư?Không phải!Có chăng là sự đoàn kết  ,sự hy sinh muốn giải cứu đồng loại khi gặp hoạn nạn trên dường.Khá thương thay!
  Ngày bé tôi vẫn thường chăn trâu trên những cánh đồng gặt xong trơ ra những gốc rạ .Nay buổi tàn thu,tôi vẫn có cái thú ngắm cánh đồng trong những buổi chiều tà bảng lảng khói sương.Khi ấy những ký ức tuổi thơ lại trở về từ cuối cánh đồng tít tắp với vài bóng bà con lam lũ.Khi ấy ,cảm giác thư thái trong tâm hồn chợt đến.Nhất là khi đàn chim đến mùa di trú lại trở  về.


Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2016

Dân móm cọ

Dù ai đi ngược về xuôi
Cơm nắm ,móm cọ là người trung du
Đúng,dân móm cọ là người quê tôi hay tôi là dân móm cọ.Đã sinh ra và lớn lên nhờ miền quê gian khó này ai dám phủ nhận vì sĩ diện.Xin thưa ngay:móm cọ là danh từ của địa phương chỉ cái giỏ xách làm từ tàu lá cọ để đựng các vật dụng và nông sản của nhưng người dân quê tôi:vùng thượng du tỉnh Phú Thọ.Đã có lần người quê tôi mang nó về Thủ đô về kể lại người phố phường không biết nó là gì và khoái chí gọi là va-ly cọ.
Thôi để bạn khỏi mất thời gian tôi xin mô tả cách làm một cái móm.Ta phải chọn một tàu lá cọ loại nhỏ chứ thứ lá to để lợp nhà không làm được vì quá cỡ và cứng không uốn được.Thứ lá làm móm ở cây cọ còn thấp nhỏ.Tùy bạn định làm móm đựng gì,to cỡ nào thì lựa lá vừa tầm.Thường thì chọn lá to cỡ cái nia sảy gạo,lá mỏng,cuống dài,lá bánh tẻ không già không non là được.Bạn hãy dùng 1 hay 2 đầu gối cuả mình làm khuôn tùy theo cỡ móm bạn định làm to chứng nào.Đặt tàu lá cọ xuống chỗ đất bằng phẳng,bạn quỳ đầu gối xuống khoảng giữa tàu lá.Hai tay thu dần các mép lá tạo thành vòm trên hai đầu gối cho đến khi toàn bộ các mép lá gặp nhau bạn xoắn lại thành một cái nút.Tiếp theo bạn bẻ gập cái cuống lá để làm quai xách.Phần đầu cuống bạn vót mỏng thành một cái lạt để buộc giữa nút lá đã tạo ra.Như thế bạn đã có 1 cái móm rồi đấy.Nó có đẹp hạy không còn tùy thuộc vào kỹ năng của người làm.Nó đựng được sắn,khoai,măng ...và bất cứ thứ gì cho được vào giỏ.Phần quai dành cho bạn xách hoặc đeo hoặc gánh nều như bạn có 2 chiếc móm.Người quê tôi mang móm lên nương đào sắn,lấy măng,nhặt trám...rồi mang phân gio ra đồng,lên nương..Nghĩa là bạn với những người lam lũ.
Tôi yêu cái móm như yêu những người lao khổ,chân chất quê tôi.Cơm nắm mo cau,cơm nắm lá chuối vốn phổ biến ở nhiều vùng quê khác nhưng cơm nắm lá cọ mới tạo nên thú ẩm thực đậm đà hương vị núi rừng của xứ sở trung du.Cơm nắm lá cọ vốn là món ăn dân dã nhưng vẫn cần đến những bàn tay khéo léo của người tạo nên. Cứ vào đúng mùa cọ, người ta lại lên đồi chặt những tàu lá cọ vẫn còn bánh tẻ về để nắm cơm. Những tàu lá cọ non còn chưa xòe hết, xanh mướt như uống trọn cái nắng ấm áp miền trung du.Lá cọ đem về hơ qua lửa cho mềm, lau sạch rồi nắm với cơm. Kỹ thuật nắm cơm dường như chỉ có được ở những phụ nữ khéo tay. Gạo đầu mùa vừa được thu hoạch là ngon và dẻo nhất. Để có được mẻ cơm trắng, những nắm cơm vừa dẻo, ăn ngọt và thơm, người xứ cọ rất có kinh nghiệm trong việc chế nước nấu cơm. Lượng nước nấu phải nhiều hơn so với nấu cơm ăn hằng ngày, đặc biệt phải dùng nước mưa đựng trong những chiếc bể cũ ngoài trời mới ngon.Trước khi nắm phải dùng khăn mặt ướt hoặc tay nhúng nước lạnh nắm tròn lại, lăn kỹ nắm cơm cho thật nhuyễn đến khi nào hạt cơm không còn nguyên vẹn và dính quyện vào nhau thành một khối. Bỏ khối cơm vào trong lòng lá cọ túm lại, lăn đi lăn lại lần nữa cho thật chặt.Từng nắm cơm với những viền sọc được tạo hình từ lá cọ đượm thơm mùi gạo quê quyện với chút hương của lá cọ. Bẻ đôi nắm cơm chấm với muối vừng lạc mới thấy hết được vị ngon của món ăn dân dã này. Cái vị ngai ngái của lá cọ như gửi trọn vào trong nắm cơm nho nhỏ ấy.
Khi xưa, mỗi lần vào rừng hay đi làm đồng xa, những người dân nghèo nơi vùng đất cọ lại mang theo những nắm cơm được nắm bằng lá cọ để tiện cho bữa ăn. Những người con nơi đây đi học xa, mỗi lần về quê lên lại được mẹ nắm cho những nắm cơm như thế mang lên, vừa chia cho cả phòng ăn vừa háo hức khoe về món đặc sản của vùng quê mình. Nhưng ngày nay, những đồi cọ đã không còn nhiều nữa và những thói quen như thế dường như cũng bị quên lãng. Chỉ còn một số xóm nghèo khi có việc vào rừng hay lên núi mới đem theo cơm nắm lá cọ.Bởi vì chỉ có trung du mới là đất của cọ.Cây cọ là cây lưu niên,trồng một lần có thể thu hoạch nhiều năm.Chủ yếu là lấy lá.Cây cọ mỗi tháng chỉ ra một lá.Lá thật non có thể làm nón,lá già mới chặt về lợp nhà hoặc bó thành từng bó 50 tàu chở theo bè tre nứa về bán cho người dưới xuôi.Từ xưa,làng tôi có ông cụ Cả Du là trùm phường khai thác và buôn lá cọ.Cụ người Hà Đông lên đây hành nghề và định cư luôn tại quê tôi.Cả cuộc đời cụ gắn bó với cây cọ xứ này.Ở trên cây lá cọ hình hơi tròn,màu xanh,xòe ra trông gần gióng như mặt trời cso nhiều tia sáng tỏa ra xung quanh.Vì thế mà có người ví như mặt trời xanh.Mỗi tàu lá cọ có cuống dài.Khi thu hoạch lá,người ta chặt cả cuống rơi xuống đất.Người dưới đát chặt riêng ra gọi là de cọ.Nó được róc hết gai,lột mỏng lấy phần cật đem phơi nắng khô để làm mành cọ.Khi làm mành người ta chẻ nhỏ,chuốt thật trơn bóng,bện thành mành treo hoặc trải giường nằm rất mát.Nhưng năm 1970 ,mành cọ được mang đi xuất khẩu thu ngoại tệ.Quê tôi tấp nập thuyền thoi trên sông Thao chở,ga tàu hàng chở mành cọ về xuôi.Cha tôi khi ấy ở đội khai thác cọ đem mành cọ về nhà phơi phóng rồi mang ra bến sông và ga tàu bán.Vai tôi đã hằn những vết nan cọ cứa vào khi mang vác chúng.Nay,phong trào ngói hóa,bê tông hóa lên cao,nhà nhà xây lợp ngói,đổ mái bằng.Lá cọ không để lớp nhànữa mà cây cọ cũng thưa dần nhường chỗ cho cây công nghiệp giấy.Hình bóng lá cọ và móm cọ trở thành hoài niệm về một thời lam lũ của người quê tôi.

Ông Thầu

Tên ông có phải là Thầu hay không thì không chắc;có điều chắc chắn rằng ông không phải là ông chủ thầu hay nhà thầu khoán mà đơn giản ông là người bán kẹo rong.Ông từ đâu đến?Ông có nhà cửa,vợ con không?Không ai biết;chỉ biết dăm bữa,nửa tháng vào những ngày đẹp trời ông dựng chiếc giá 3 chân làm bàn,đặt chiếc ghế gấp dưới gốc cây táo lưu niên trước cửa nhà ông Nghiệp thương binh cắt tóc và cất tiếng rao :"-Ai kẹo kéo đơi!"Tiếng của ông khàn khàn,đùng đục không đi được xa.Nhưng khi ông giơ chiếc kéo to bằng kéo thợ may lên trời gõ lách cách thì nó vang xa đến mấy trăm thước.Tiếng kéo ấy giống cách rao phở gõ của người thành phố hay như tiếng kéo của ông bán bò khô trong một phóng sự truyền hình.Bây giờ nói vậy chứ hồi trẻ chúng tôi đâu biết đến cái ti-vi.Chỉ nhớ tiếng kéo ông Thầu đã lôi chúng tôi đang vây quanh ông Nghiệp xem hớt tóc hay đang ngắm những chú chim trong các lồng quanh hiên nhà ông Cám Gù ...đều bỏ chạy túa ra mà reo lên:"-ông Thầu!ông Thầu!kẹo kéo ông Thầu"Ông như thần tượng mà lũ chúng tôi là fan hâm mộ.Đúng hơn,hâm mộ món kẹo của ông thì có.Hẵng khoan kể đến món ngon được phủ tấm vải màu nước dưa vì trước khi ngả màu vì thời gian chắcnó là màu trắng ở trên mặt bàn gấp kia ta hãy quan sát chủ của nó.Một người đàn ông cao to,mặt vuông chữ điền theo phép nhân tướng họccủa Jean Haner thì đây là người thuộc hành Thổ có sức chịu đựng và thể lực cao,dù phải làm việc nơi áp lực lớn vẫn tỉnh táo.Đôi tai to nhưng phần trên tai lại nhọn tố cáo chủ của nó là người rất bí mật,bí ẩn và nói chuyện có duyên.Mỗi khi cao hứng ông lại đá vài tiếng Tây bồi;tỷ như gặp ai ông cũng chào:"-Me xừ-bông dua Tich(ấy là chào ông Tích Thóc)hay thấy các bà,các cô ông đều nhấc chiếc mũ phở trên đầu ra,nghiêng mình:"-Bông-dua Má-đàm" lũ chúng tôi kính nể lắm.Những lúc vắng khách mua ông còn kể cho lũ trẻ nghe câu chuyện ông Thánh sống dịch ra tiếng Pháp câu đồng dao:"Con mèo;con mẻo;con meo;muốn ăn thịt chuột thì leo lên xà” ra tiếng Pháp. (O chat! O chat! O chat! Voulez-vous manger le rat, montez sur la poutre :"Ô sa! Ô sa! Ồ sa! Vu-lê-vu măng-giê lơ ra, mông-tê xuyếc la pu-tơ-rơ" có sinh viên Nga học tiếng Việt bắt chước bèn dịch câu:"Con vòi'con vỏi' con voi "ra tiếng Nga là Sờ ...huyền,sờ lổn,sờ lôn(слон)...làm lũ chúng tôi cười ré lên.Về trí tuệ chúng tôi phục ông sát đất nhưng về thể lực bọn trẻ rất thương ông.Có lẽ trước kia còn phong độ nhưng giờ nom ông khô hạc lắm.Bọn tôi lo nếu gió thổi to,ông Thầu sẽ bay mất nên mỗi khi trời trở gió chúng tôi lại đồng thanh la to:"-Giông bão nổi lên rồi!Ông Thầu ơi!Giông bão nổi lên rồi!".Lần đầu nghe thế,ông quýnh quáng gấp bàn ghế thu đồ nghề tưởng mưa đến nơi sau quen dần nghe la ông chỉ nheo nheo mắt,cười hiền lành.Ta lại trở về nghiệp vụ của ông,ông chỉ bán một thứ hàng duy nhất:kẹo kéo.Nó ngon mức độ nào chỉ chúng tôi mới thẩm định được:sau nửa thế kỷ đến nay dù họp đồng hương,đồng học đều nhắc lại chuyện kẹo kéo ông Thầu!Thế đấy!Cái kẹo mà ông rao:"
-Cô kia thấp lủn cùn cùn
Ăn hào kẹo kéo nó đùn lển cao”
Hay”-Anh nào vợ chán vợ chê
Ăn hào kẹo kéo lại về với nhau”..
như một phép tiên,ma thuật?ít ra chúng tôi tin như thế.Khi đó những đứa có tiền hay không đều nhao nhao:"-Bán cho cháu một hào;năm xu;hai xu ...."đều được tất chỉ có điều thanh kẹo dài ngắn khác nhau thôi.Từ thỏi kẹo to đùng cách mệnh thò đầu ra khỏi cái khăn kia:ông Thầu vuốt mạnh cho nó dài ra như đầu con rắn thon dần.Muốn cắt bằng kéo ư?Đố đây nhé!Trai làng đã thử không những không cắt được mà rút lưỡi kéo ra khỏi kẹo cũng không xong.Với ông Thầu thì đơn giản:cái móng tay để dài của ông chỉ chích vào đúng điểm có tọa độ xu hào và chỉ chớp mắt Bụt một tiếng Cờ-rắc vang lên,gọn và sắc với độ chính xác đến từng rem thanh kẹo đã được đưa đến tay Thượng đế đúng giá trị 1 hào dài bằng 2 viên phấn trắng,hai xu dài bằng 1 thốn đồng thân trẻ con.Cứ thế chuỗi tiền xu của chúng tôi ngắn dần theo niềm vui thơ trẻ.Không như người lớn yêu tiền có mệnh giá lớn là loại tiền giấy.Theo triết lý:tiền kim loại thường phát ra âm thanh lớn hơn tiền giấy.Mà thứ gì lớn tiếng huyênh hoang hơn là loại có giá thấp hơn loại thâm trầm kín tiếng.Trẻ con thì không triết lý,chúng ưa sự tiện dụng hơn.Đồng xu dễ tiêu lại làm dụng cụ vừa giải trí vừa sinh sôi.Ấy là để đánh đáo ăn tiền.Các đồng xu của chúng tôi hiếm có đồng nào mới láng coóng mà thường sứt sẹo sau trận chiến.Thế mới hách nhất là khi chúng tập hợp trên đầu giải rút quần,đập nhịp leng keng theo mỗi bước chân hùng dũng của chủ tiến đến bàn keo ông Thầu.Chỉ có thằng Sơn Són là chúa khôn lỏi.Nó chờ cho bọn tôi chia nhau ăn hết phần kẹo rồi mới xì ra một xu,thong thả nhấm nháp viên kẹo trước những con mắt thèm thuồng của chúng bạn.Nó vừa thưởng thức một cách khoái trá vừa lè lưỡi trêu:”
-Nhem nhẻm nhèm nhem
Có bọn chết thèm
Ở bãi cứt trâu”
Rồi ù té chạy trước khi bọn tôi đuổi theo cái thằng keo kiệt ỉa ra xà beng cứt sắt ấy.
Chuỗi ngày vui vẻ bên ông Thầu chẳng được lâu:máy bay Mỹ bắt đầu leo thang đánh phá miền Bắc.Gốc táo ông Thầu thuộc trọng điểm đánh phá dọc tuyến đường sắt Hà- Lào.Chúng tôi phân tán theo gia đình sơ tán vào chân núi,ven rừng.Khi trở về không còn nhận ra chỗ cũ thay vì gốc táo chốn xưa là các hố bom chi chít.Ông Thầu còn không hay lưu lạc nơi đâu?Có ai còn biết?50 năm rồi,kẹo kéo ơi!Tuổi thơ ơi!

HỒI ỨC TÀU CHỢ

Gọi là tàu chợ để phân biệt với tàu chở khách chạy nhanh được mang danh tàu tốc hành.Biết mình phận hẩm tuy cũng chở khách nhưng phải đỗ tất cả các ga kể cả ga lẻ ,trang bị chỉ gồm các toa tàu cũ kỹ từ thời thuộc Pháp nghĩa là ghế dọc còn dành khoảng giữa chứa hàng.Đã thế trên đường tàu chợ lại phải nhường đường cho các tàu nhanh nên chỉ những khách nghèo,mang theo hành lý hàng hóa cồng kềnh và lũ học sinh chúng tôi mới chọn tàu chợ bởi giá vé nó rẻ hơn.Những năm 6,70 của thế kỷ trước,giá cước đi tàu chợ mỗi km chỉ 2 xu thường thường đi mỗi ga tàu hết 2 hào.Thế thôi mà lũ học trò cấp 3 chúng tôi vẫn thi nhau trốn vé:đứa không có tiền đã đành,đứa có tiền cũng trốn,thoát thì tự hào coi như 1 chiến tích:để ra 2 haò mua được cái bánh rán!?!Để tránh phải vào ga qua cửa soát vé,bọn tôi nhảy tàu từ khi tàu chưa vào ga,nhiều nhất là khi tàu giảm tốc độ lúc qua cầu Ngòi Lửa.Hậu quả là một bạn gái cùng học với lớp chúng tôi bị cụt một chân(Nay cô ấy đã qua đời,cầu chúc cho cô thanh thản nơi vĩnh hằng).Vậy mà lũ quỷ sứ vẫn không vì hãi mà giảm thú nhảy tàu. Chúng còn tụ tập trêu ông già bán vé kiêm phát thanh viên của ga trong lúc chờ tàu.Vốn là cán bộ miền Nam tập kết nên giọng nói miền Trung của ông làm chúng thích thú mỗi khi tàu sắp về ông bắc chiếc loa uốn bằng tôn lên :"-A lô! A lô! Đoàn tàu đang từ từ tiến vào ga Đoan Thượng,các vị quý khách ở ga Đoan Thượng chuẩn bị hành lý lên tàu.Các vị đứng cách đường sắt 1m 50 để đảm bảo an toàn.Khi tàu dừng hẳn,các vị nhanh chóng vào trong toa xe,không đứng ở 2 đầu toa nối giáp nhau để đoàn tàu đưa quý khách về ga tới được an toàn...."
Thế là tụi học trò lại đồng thanh nhại giọng Quảng Nôm của ông trọ trẹ như sau:"-A nô!A nô! Đoàn tào đang từ từ tiến vào ghe Đon Thợơng ,các zị gúy khách ở ghe Đon Thợơng chuẩn bị hành lý lên tào.Khi lên tào,các zị chú ý mấy đìu sau:zị gúy khách nào tán dô,mặt rỗ,răng vẩu,răng vàng...các bà bụng dạ kềnh càng xin mời xuống toa đen để khỏi làm bong sơn,hỏng kính của đoàn tàu.Các cháu nhỏ thì bỏ vào ống khói đầu tàu,thanh niên trai tráng gối đầu thanh ray để cho đoàn tào chuyển bánh nhịp nhàng về ghe tới là ghe Ấm Thợ ơng được on toàn....":
Nghe thế,ông già thương binh một chân không đuổi kịp lũ trẻ mà chỉ quăng cây nạng gỗ về phía chúng để rồi tập tễnh đi nhặt lại...

NHÀ VÀNG

Nhà Vàng là tên cánh đồng nằm giữa xóm Cầu Đất và xóm Ngòi của làng Minh Sơn.Vì ở vùng thượng du nên cánh đồng không bao la bằng phẳng như các cánh đồng ở dưới xuôi mà ngổn ngang gò đống cạnh ruộng trũng sâu.Nhưng cánh đồng chứa biết bao nhiêu câu chuyện kỳ bí,liêu trai xung quanh truyền thuyết nơi đây chính là nơi giấu vàng của người Tàu.Nào là chuyện ông Tích Thóc quả quyết rằng trong một buổi đi vớt ống lươn lúc mờ sáng gặp một người hối hả lùa hàng trăm con vịt qua các thửa ruộng về phía Dõng Đầm cho kịp trước khi trời sáng phải nhờ ông giúp,để trả công người đó chỉ cho ông một con vịt què đang lê lết mà không theo kịp đàn.Ông Tích Thóc chê không lấy để rồi đến khi trời sáng tiếc ngơ tiếc ngẩn vì mới biết đó là con vịt vàng bởi lẽ miếng trầu mà người kia cho đã nhai giập cầm trên tay bỗng thành vàng mười đủ để ông trở thành cự phú của làng với hỗn danh:ông Tích Thóc sau này.
Lại kể chuyện ông Tú Giai nghe đồn Nhà Vàng có kho của bèn mời thầy phù thủy về làm phép hô thần bắt quyết mở của kho báu.Đến lúc thành công,đất ầm ầm mở ra một hố đen mờ ảo và từ trong đó một thiếu phụ khăn vấn,áo dài bước ra đón,trên tay mang một cơi trầu mời.Thay vì phải đỡ cả 2 tay lấy khay trầu mới đúng phép thì ông Tú chỉ đưa 1 tay ra nhón lấy 1 miếng trầu.Lập tức từ trong có tiếng hô:"Phản tặc",người đàn bà cùng khay trầu biến mất,cửa đất lại ầm ầm khép lại.Và từ đó không có ai mở được kho báu nữa.
Ly kỳ nhất là chuyện con gái ông bà Tham Hiếu thoát chết khỏi làm thần giữ của.Người thì bảo chị ta bị chôn ở giếng Tang,kẻ thì cam đoan rằng ở Nhà Vàng mới đúng.Họ chỉ chung nhau ở cái sự rằng nhà ông Tham Hiếu có cô con gái nhan sắc nhưng chưa tìm được nơi môn đăng hộ đối.Bỗng một ngày kia có mấy người khăn áo chỉnh tề, mang lễ vật hậu hĩnh nhờ bà mối nói khéo đến hỏi cô làm vợ.Hỏi gia cảnh,quê quán họ chỉ nói là người làng Thượng làm nghề buôn bè trên sông Thao.Gả con được mấy tháng thì đến lễ vu lan được gặp lại con gái ,bà Tham kín đáo hỏi han thì cô con gái kể một sự lạ là từ ngày thành hôn chú rể không hề ăn nằm với vợ bao giờ.Ông bà sinh nghi,lo rằng họ vờ cưới con gái mình về làm thần giữ của nên bí mật giao cho cô giữ một gói hạt vừng giống dặn khi nào thấy bị đưa đi bất thường thì lén rắc hạt vừng làm dấu.Quả nhiên.một thời gian sau,không thấy con gái về thăm,sang dò hỏi thì thông gia bảo cô ta đi thăm họ ngoại nhà chồng trên mạn ngược.Hốt hoảng ông Tham triệu tập mấy người tâm phúc mang dụng cụ đi tìm lần theo dấu những cây vừng con mới lấm tấm mọc tới tận Nhà Vàng.Đúng chỗ mất dấu cây vừng họ đào lên thấy một cửa hầm xây bí mật(có thể những người xây dựng công trình này đã bị thủ tiêu).Mở ra thấy bên trong đèn nến,hương nhang vẫn leo lét cháy.Cô con gái của họ bị đóng đinh gim cả tay chân ngồi giữa đống vàng bạc,châu báu chất xung quanh.Khi cạy miệng cô gái bị gắn xi kín ra người ta thấy một miếng sâm.Họ vội mang về cứu chữa.May mà kịp bởi nghe đâu người Tàu yểm bùa bằng cô gái đồng trinh tính đến trăm ngày sẽ biến thành thần giữ cuả để không ai có thể bén mảng đến kho báu của họ.
Chuyện là vậy nhưng với người làng Đan,Nhà Vàng chỉ là những tràn mạ,ruộng trũng với những người nông dân vừa lam làm vừa kể chuyện huyền hoặc về nơi mình đổ nhiều mồ hôi.Với thời niên thiếu của tôi,Nhà Vàng là nơi nghe được nhiều sự tích nhất để mỗi khi phải từ nơi sơ tán thời kháng chiến phải về vườn nhà lấy hoa quả,lương thực đi qua Nhà Vàng vào lúc chạng vạng phải rùng mình,ngó trước,ngó sau