Dây gầu bối rối rơi trên tay bà
Tôi muốn viết về một nét
gì đó của làng Hạ Đan yêu dấu của tôi.Việc đó rất khó vì tôi không có khả
năng.Ấu cũng là lực bất tòng tâm..Nhưng trong tôi vẫn có một nối niềm đau đáu
như món nợ đời chưa trả được cho nơi chôn nhau cắt rốn của mình.Mặt khác làng tôi
không phải là một làng Việt cổ có các danh lam thắng cảnh hay nhiều di tích
lịch sử,mặc dù làng chỉ cách đền Hiền thờ thánh Mẫu Âu cơ vài cây số đường chim
bay.Nơi mà theo truyền thuyết Mẹ Âu cơ sau khi đưa 50 người con lập ấp,sinh
cơ.Người đã về Trời để lại dải yếm nơi gốc đa cổ thụ mà nay người đời lập đền
thờ tưởng nhớ.Làng tôi mới được tạo lập từ vài trăm năm nay theo thần phả cất ở
đình làng thì tên cũ của làng là Minh Sơn(tức là núi sáng)do những người
dưới xuôi lên đây khai khẩn đất hoang,quần tụ mà thành làng.Vậy thôi;những điều
người xưa ghi lại đơn sơ quá.Vậy cái mảnh hồn làng nằm ở đâu?mà hàng trăm
năm nay,hàng nghìn nhà dân thành tâm hương khói?Tôi bước đi trên con đường nhỏ
trong làng mà lòng xốn sang trước cái thực.Đã có thực một ngôi đình rộng thênh
thang nằm trên gò đất nhỏ giữa Đầm Hà mênh mồng.Ngôi đình mà con các
anh Duy Đài,anh Nguyễn Trọng sống giữa Thủ đô vẫn tự hào về những cây cột đình
gỗ lim to người ôm không xuể.Qua lời kể của mẹ cha;mỗi khi chúng gặp rủi ro,tai
qua nạn khỏi,bọn chúng lại nói câu của miệng:"Phúc to bằng cái đình
Hạ Đan,bố mẹ ạ!"Nhưng với riêng tôi,kỷ niệm sâu sắc nhứt vẫn là cái giếng
làng.Giếng làng tui không to và hình vuông như giếng làng ở dưới xuôi.Có lẽ xưa
kia nó cũng hình vuông,ngoại trừ thành giếng;có lẽ sau này người ta xây lại
thành hình tròn.Bằng chứng là khi tát giếng hay khi trời trong nhìn sâu xuống
đáy giếng ta thấy lòng giếng dưới sâu không xây mà lát gạch thành hình
vuông.Những viên gạch vồ to tổ bố được xếp vuông vắn từ đáy giếng lên.Nước
trong văn vắt,mỗi khi chúng tôi ngó cổ xuống thấy cả bầu trời trong xanh dưới
đáy giếng khơi.Ban ngày chúng tôi mới dám ra chơi gần giếng thậm chí ngó cả cổ
xuống chứ đến đêm thì eo ơi!Đố có dám!Mọi người đồn rằng ngày xưa giếng là nơi
người Tàu giấu của.Khi nước ta cấm người Tàu mang vàng bạc về nước thì chúng
tìm cách chôn giấu để sau này có dịp sẽ sang lấy lại.Để giữ bí mật nơi giấu
,chúng giết hết những người tham gia vào việc vận chuyển và chôn cất.Chúng còn
chôn theoột người con gái đồng trinh để làm thần gữ của.Vàng bạc chất xung
quanh,miệng ngậm sâm và bị gắn xi,đèn nến tắp đủ sáng cho đến khi người con gái
ấy chết.Hồn ma người ấy sẽ bảo vệ không cho người ngoài xâm phạm chờ chủ của
kho của xuất hiện.Có người còn quả quyết rằng vào một đêm thanh vắng,tận mắt
nhìn thấy một người con gái mặc áo trắng,tóc dài buông xõa che kín mặt,thấp
thoáng bên thành giếng.Khi người đó tới gần thì bóng trắng đso biến
mất.Những chuyện đó làm cho lũ trẻ chúng tôi khiếp vía,tối đến sợ cả cây sồi cổ
thụ mọc gần giếng.Tối đến ,bóng cây sồi mốc trắng cong cong,tán lá đen dày lập
lòe bởi những con đom đóm làm tụi trẻ sợ hết hồn.Ban đêm alf thế,nhưng ban ngày
chúng tôi làm chủ cả tán sồi.Bóng sồi là nơi vui chơi lý tưởng của trẻ con.Xung
quanh gốc là đám đất bằng để chúng tôi quét sạch làm chỗ ngồi chơi.Những quả
sồi ghè cứng nhẫy như những chú rùa đá mà chúng tôi tìm được là sản phẩm đúc
đầy túi quần mỗi đứa.Chúng tôi sắp chúng thành hàng trên mặt đất khi chơi
trông như những chiếc chén uống nước úp ngược hay như những quả bí ngô nhỏ
xinh.Tuổi thơ tôi gắn liền với chiếc cổng đá cạnh lũy tre nhà.Xa hơn nữa là Đầm
Hà với biết bao tôm cá;xa hơn nữa là gò Con Tượng xanh xanh,hình một chú voi
cúi xuống uống nước Đầm Hà cổ tích.Gò con Tượng không cao lắm nhưng vì đứng độc
lập cạnh cánh đồng và đầm nước mênh mông nên nổi trội.Sườn dốc phẳng xuống,chỗ
yên ngựa làm thành một bãi bằng,khum lại như bành con voi chỉ đủ dựng một ngôi
đền giếng Sứa.Lưu giữ giếng Sứa rất huyền thoại nên gò còn được gọi tên là gò
Đền.Ngày xưa có một ngôi đền lợp lá cọ ba gian,cột gỗ lim,người ôm không xuể.Về
sau,đền được xây tường gạch bao quanh.Mặt tiền được đắp đôi rồng lượn,câu đối
và hai con nghê trên đỉnh cột cái như chầu vào đền lại như hướng lên một vòm
xanh,long lanh năm tháng.Trên hậu cung của đền có thwof một cỗ ngai sơn son
thếp vàng và bài vị của Cao Sơn Đại vương.Vì là thờ vọng nên đền không có tượng
của vị tướng thời Hùng Vương này (theo thần phả nơi dân lập đền thờ chính của
Ngày tận Ba Vì -Sơn Tây ).Những ngày đẹp trời,đứng trên đỉnh gò Đền ,phóng tầm
mắt qua sông Thao về phía tây,ta thấy cả đền Mẫu Âu Cơ xa xa dưới bóng đa xanh
sẫm một chấm nâu màu ngói,lấp lóa trong nắng.Những người về trang Hiền Lương
ngàn năm trước chắc là những con cháu của Âu Cơ rời Phong Châu tiến về khai phá
đất rừng làm nên những cánh đồng bám vạt núi đồi quê tôi.Trong cái hoang vu
thủa ấy,có vô số lau sậy,nứa giang,chớp trắng những cánh chim trời và mênh mông
tăm cá.Có cả tiếng gầm của hùm beo,thú dữ cho nên hai bên mé tường hậu cung của
Đền Thượng có đắp bức phù điêu đôi hổ dứng cọp nằm.Lễ đền mùng bảy tháng
Giêng hàng năm bao giờ cũng có tục chạy sỏ lợn sống tế thần.Người đi mở đất có
lẽ chưa phải là một nông phu ngay mà có lẽ trước nhất là một lạc dân hái
lượm,săn bắt trên vùng rừng âm u xưa.Đến thời bố tôi là một nông dân nhưng đã chẳng
từng là một thợ sơn tràng,bắt vã đó sao.
Hạ Đan hôm
nay đã là một làng đẹp và sạch.Đi trước nhất là việc bê tông hóa đường làng ngõ
xóm.Cái xóm Cầu Đất xưa đã có đường bê tông qua giếng Tang rồi đó.Nhà văn hóa
khu 8 xây gần cạnh giếng.Nhà nhà có nước giếng khơi.Có lẽ không nhà ai phải ra
giếng Tang gánh nước nữa.Nhưng riêng tôi,lòng đã hẹn lòng đến một ngày đẹp trời
cùng bạn bè về để được tắm trong nước giếng Tang.Chỉ có
thể đẹp lên về tâm hồn.Và biết đâu lại đẹp lên
một tý về cái dáng vóc hạn chế 1m60,cân nặng 46kg này.
















