Thứ Năm, 31 tháng 3, 2016

GIẾNG LÀNG ĐAN

Giếng làng từ độ trăng lên
Dây gầu bối rối rơi trên tay bà
Tôi muốn viết về một nét gì đó của làng Hạ Đan yêu dấu của tôi.Việc đó rất khó vì tôi không có khả năng.Ấu cũng là lực bất tòng tâm..Nhưng trong tôi vẫn có một nối niềm đau đáu như món nợ đời chưa trả được cho nơi chôn nhau cắt rốn của mình.Mặt khác làng tôi không phải là một làng Việt cổ có các danh lam thắng cảnh hay nhiều di tích lịch sử,mặc dù làng chỉ cách đền Hiền thờ thánh Mẫu Âu cơ vài cây số đường chim bay.Nơi mà theo truyền thuyết Mẹ Âu cơ sau khi đưa 50 người con lập ấp,sinh cơ.Người đã về Trời để lại dải yếm nơi gốc đa cổ thụ mà nay người đời lập đền thờ tưởng nhớ.Làng tôi mới được tạo lập từ vài trăm năm nay theo thần phả cất ở đình làng thì tên cũ của làng là Minh Sơn(tức là núi sáng)do những người dưới xuôi lên đây khai khẩn đất hoang,quần tụ mà thành làng.Vậy thôi;những điều người xưa ghi lại đơn sơ quá.Vậy cái mảnh hồn làng nằm ở đâu?mà hàng trăm năm nay,hàng nghìn nhà dân thành tâm hương khói?Tôi bước đi trên con đường nhỏ trong làng mà lòng xốn sang trước cái thực.Đã có thực một ngôi đình rộng thênh thang nằm trên gò đất nhỏ giữa Đầm Hà mênh mồng.Ngôi đình mà con các anh Duy Đài,anh Nguyễn Trọng sống giữa Thủ đô vẫn tự hào về những cây cột đình gỗ lim to người ôm không xuể.Qua lời kể của mẹ cha;mỗi khi chúng gặp rủi ro,tai qua nạn khỏi,bọn chúng lại nói câu của miệng:"Phúc to bằng cái đình  Hạ Đan,bố mẹ ạ!"Nhưng với riêng tôi,kỷ niệm sâu sắc nhứt vẫn là cái giếng làng.Giếng làng tui không to và hình vuông như giếng làng ở dưới xuôi.Có lẽ xưa kia nó cũng hình vuông,ngoại trừ thành giếng;có lẽ sau này người ta xây lại thành hình tròn.Bằng chứng là khi tát giếng hay khi trời trong nhìn sâu xuống đáy giếng ta thấy lòng giếng dưới sâu không xây mà lát gạch thành hình vuông.Những viên gạch vồ to tổ bố được xếp vuông vắn từ đáy giếng lên.Nước trong văn vắt,mỗi khi chúng tôi ngó cổ xuống thấy cả bầu trời trong xanh dưới đáy giếng khơi.Ban ngày chúng tôi mới dám ra chơi gần giếng thậm chí ngó cả cổ xuống chứ đến đêm thì eo ơi!Đố có dám!Mọi người đồn rằng ngày xưa giếng là nơi người Tàu giấu của.Khi nước ta cấm người Tàu mang vàng bạc về nước thì chúng tìm cách chôn giấu để sau này có dịp sẽ sang lấy lại.Để giữ bí mật nơi giấu ,chúng giết hết những người tham gia vào việc vận chuyển và chôn cất.Chúng còn chôn theoột người con gái đồng trinh để làm thần gữ của.Vàng bạc chất xung quanh,miệng ngậm sâm và bị gắn xi,đèn nến tắp đủ sáng cho đến khi người con gái ấy chết.Hồn ma người ấy sẽ bảo vệ không cho người ngoài xâm phạm chờ chủ của kho của xuất hiện.Có người còn quả quyết rằng vào một đêm thanh vắng,tận mắt nhìn thấy một người con gái mặc áo trắng,tóc dài buông xõa che kín mặt,thấp thoáng bên thành giếng.Khi người đó  tới gần thì bóng trắng đso biến mất.Những chuyện đó làm cho lũ trẻ chúng tôi khiếp vía,tối đến sợ cả cây sồi cổ thụ mọc gần giếng.Tối đến ,bóng cây sồi mốc trắng cong cong,tán lá đen dày lập lòe bởi những con đom đóm làm tụi trẻ sợ hết hồn.Ban đêm alf thế,nhưng ban ngày chúng tôi làm chủ cả tán sồi.Bóng sồi là nơi vui chơi lý tưởng của trẻ con.Xung quanh gốc là đám đất bằng để chúng tôi quét sạch làm chỗ ngồi chơi.Những quả sồi ghè cứng nhẫy như những chú rùa đá mà chúng tôi tìm được là sản phẩm đúc đầy túi quần mỗi đứa.Chúng tôi  sắp chúng thành hàng trên mặt đất khi chơi trông như những chiếc chén uống nước úp ngược hay như những quả bí ngô nhỏ xinh.Tuổi thơ tôi gắn liền với chiếc cổng đá cạnh lũy tre nhà.Xa hơn nữa là Đầm Hà với biết bao tôm cá;xa hơn nữa là gò Con Tượng xanh xanh,hình một chú voi cúi xuống uống nước Đầm Hà cổ tích.Gò con Tượng không cao lắm nhưng vì đứng độc lập cạnh cánh đồng và đầm nước mênh mông nên nổi trội.Sườn dốc phẳng xuống,chỗ yên ngựa làm thành một bãi bằng,khum lại như bành con voi chỉ đủ dựng một ngôi đền giếng Sứa.Lưu giữ giếng Sứa rất huyền thoại nên gò còn được gọi tên là gò Đền.Ngày xưa có một ngôi đền lợp lá cọ ba gian,cột gỗ lim,người ôm không xuể.Về sau,đền được xây tường gạch bao quanh.Mặt tiền được đắp đôi rồng lượn,câu đối và hai con nghê trên đỉnh cột cái như chầu vào đền lại như hướng lên một vòm xanh,long lanh năm tháng.Trên hậu cung của đền có thwof một cỗ ngai sơn son thếp vàng và bài vị của Cao Sơn Đại vương.Vì là thờ vọng nên đền không có tượng của vị tướng thời Hùng Vương này (theo thần phả nơi dân lập đền thờ chính của Ngày tận Ba Vì -Sơn Tây ).Những ngày đẹp trời,đứng trên đỉnh gò Đền ,phóng tầm mắt qua sông Thao về phía tây,ta thấy cả đền Mẫu Âu Cơ xa xa dưới bóng đa xanh sẫm một chấm nâu màu ngói,lấp lóa trong nắng.Những người về trang Hiền Lương ngàn năm trước chắc là những con cháu của Âu Cơ rời Phong Châu tiến về khai phá đất rừng làm nên những cánh đồng bám vạt núi đồi quê tôi.Trong cái hoang vu thủa ấy,có vô số lau sậy,nứa giang,chớp trắng những cánh chim trời và mênh mông tăm cá.Có cả tiếng gầm của hùm beo,thú dữ cho nên hai bên mé tường hậu cung của Đền Thượng có đắp bức phù điêu đôi hổ dứng cọp nằm.Lễ đền mùng bảy tháng Giêng hàng năm bao giờ cũng có tục chạy sỏ lợn sống tế thần.Người đi mở đất có lẽ chưa phải là một nông phu ngay mà có lẽ trước nhất là một lạc dân hái lượm,săn bắt trên vùng rừng âm u xưa.Đến thời bố tôi là một nông dân nhưng đã chẳng từng là một thợ sơn tràng,bắt vã đó sao.

   Hạ Đan hôm nay đã là một làng đẹp và sạch.Đi trước nhất là việc bê tông hóa đường làng ngõ xóm.Cái xóm Cầu Đất xưa đã có đường bê tông qua giếng Tang rồi đó.Nhà văn hóa khu 8 xây gần cạnh giếng.Nhà nhà có nước giếng khơi.Có lẽ không nhà ai phải ra giếng Tang gánh nước nữa.Nhưng riêng tôi,lòng đã hẹn lòng đến một ngày đẹp trời cùng bạn bè về để được tắm trong nước giếng Tang.Chỉ có thể  đẹp   lên về tâm hồn.Và biết đâu lại đẹp lên một tý về cái dáng vóc hạn chế 1m60,cân nặng 46kg này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét